Tạp chí Phụ sản

Journal Information
ISSN / EISSN : 1859-3844 / 1859-3844
Total articles ≅ 255
Filter:

Latest articles in this journal

Thị Lan Anh Lê, Thị Thanh Hà Trần, Minh Trác Lê, Thành Hải Nguyễn, Anh Dũng Đoàn
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 30-35; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.1281

Abstract:
Mục tiêu: Mô tả thực trạng sử dụng surfactant trong điều trị hội chứng suy hô hấp (RDS) ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương; Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu bệnh án của các bệnh nhi sơ sinh có sử dụng surfactant trong khoảng thời gian từ 01/10/2019 đến hết 31/12/2019. Kết quả: 182 trẻ sơ sinh mắc RDS sử dụng 208 lượt surfactant, trong đó số lượt sử dụng beractant là nhiều nhất (45,7%). Chỉ 68,8% lượt bơm surfactant được hội chẩn trước khi dùng thuốc. Liều poractant alfa, beractant và bovactant ban đầu phù hợp khuyến cáo lần lượt chiếm 87,5%; 14,6% và 9,5%. Tỉ lệ chỉ định thời điểm dùng poractant alfa và beractant phù hợp lần lượt là 93,1% và 91,0% ở liều đầu; 86,7% và 85,7% ở liều lặp lại. Tỉ lệ chỉ định bovactant phù hợp về thời điểm còn thấp (38,1% ở liều đầu và 50% ở liều lặp lại). Kết luận: Bác sĩ sơ sinh cần phải hội chẩn đầy đủ trước khi sử dụng surfactant và sử dụng đúng các mức liều surfactant được khuyến cáo cho mỗi loại surfactant và mỗi liều surfactant theo đơn vị mg/kg cân nặng của trẻ, đồng thời chỉ định surfactant kịp thời cho trẻ sơ sinh trong trường hợp cần sử dụng thuốc nhằm tăng hiệu quả điều trị.
Thị Minh Phương Vũ, Văn Tâm Vũ
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 26-29; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.1355

Abstract:
Mục tiêu: đánh giá kết quả truyền ối điều trị thiểu ối tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng từ tháng 9/2018 tới 2/2020. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả tiến cứu, theo dõi dọc. Nghiên cứu được thực hiện trên 40 thai phụ có tuổi thai từ 17 tuần tới 33 tuần, tim thai dương tính, được chẩn đoán thiểu ối (AFI < 50mm). Trong quá trình truyền ối có thể kết hợp chọc ối tìm các bất thường về di truyền. Siêu âm được thực hiện sau mỗi lần truyền ối để đánh giá kết quả. Kết quả: 19/40 bệnh nhân sinh con khỏe mạnh (47,5%), 8 ca thai lưu, 2 ca sảy thai và 11 trường hợp tử vong chu sinh. Tuổi thai trung bình tiến hành truyền ối là 24,38 ± 4,86 tuần; tuổi thai trung bình lúc sinh 30,88 ± 7,39 tuần. Nghiên cứu ghi nhận 2 trường hợp bị rỉ ối phải kết thúc thai kì ở tuần 17 và 20; 17 trường hợp BN chuyển dạ đẻ sau 34 tuần, 2 trường hợp chuyển dạ sinh non từ 28 – 34 tuần, 21 ca sinh < 28 tuần. Tuổi thai tiến hành bơm ối càng cao thì tiên lượng kết cục thai kì có xu hướng tốt hơn. Kết luận: truyền ối có thể đem lại một số lợi ích cho những bệnh nhân thiểu ối. Cần nhiều nghiên cứu với cỡ mẫu lớn
Thị Huyền Trang Trần, Lê Thị Hà Xuyên
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 66-68; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.1316

Abstract:
Hội chứng Turner (TS: Turner Syndrome) là một trong những hội chứng phổ biến liên quan đến rối loạn nhiễm sắc thể giới tính ở nữ giới. Khoảng 95-98% bệnh nhân hội chứng Turner vô sinh do suy buồng trứng. Khả năng có thai tự nhiên ở những bệnh nhân này gần như rất hiếm. Ngoài ra, khi mang thai kể cả bằng noãn tự thân hay noãn hiến thì phụ nữ hội chứng Turner đều phải đối diện với nhiều nguy cơ trong thai kỳ, như nguy cơ sẩy thai, tiền sản giật (TSG), nguy cơ bóc tách động mạch chủ đe dọa tính mạng người mẹ và thai nhi. Báo cáo này trình bày một trường hợp bệnh nhân hội chứng Turner thể khảm mos45,X[5]/46,del(X)(q24) mang thai thành công nhờ nguồn noãn hiến tặng và sinh được một bé gái khỏe mạnh nặng 2900gr ở tuổi thai 39 tuần dưới sự phối hợp và theo dõi sát của nhiều chuyên khoa.
Quang Vũ Phạm, Danh Cường Trần, Việt Hòa Trần, Hải Long Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 19-25; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.1342

Abstract:
Mục tiêu: Mô tả, đánh giá các yếu tố liên quan tới kết quả điều trị của các thai phụ ra ối sớm ở tuổi thai 16- 34 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, theo dõi 125 thai phụ được chẩn đoán và điều trị ra ối sớm ở tuổi thai 16- 34 tuần, so sánh đánh giá các yếu tố liên quan tới kết quả thai kì của những trường hợp này. Kết quả: Nhóm thai phụ có tuổi thai 23 - 28 tuần thường gặp tình trạng ra ối sớm. Tỷ lệ giữ thai > 1 tuần là 30,4%, giữ thai tới khi đủ tháng là 3,2%. Nếu duy trì được thai kì tới 28 - 32 tuần thì nguy cơ tử vong giảm 141,66 lần so với nhóm tuổi thai từ 16- 22 tuần (OR=141,66, 95% CI : 16,029 – 1252,061). Khi chỉ số ối (AFI) của thai phụ giảm dưới 50mm thì nguy cơ phải lấy thai trong vòng 48h tăng lên 6,29 lần (OR=6.29, 95% CI: 2,41- 16,29 ) và nguy cơ tử vong sơ sinh tăng lên 4,89 lần (OR= 4,89, 95% CI: 1,69 – 14,11) so với nhóm thai phụ có chỉ số ối bình thường. Khi thai phụ có biểu hiện nhiễm trùng kèm theo ra ối sớm thì nguy cơ nhiễm khuẩn sơ sinh tăng lên 2,53 lần (OR = 2,53, 95% CI : 1,12- 5,67). Thai phụ được sử dụng corticoid đủ liều sẽ cải thiện tình trạng sơ sinh , giảm nguy cơ tử vong trẻ 12,04 lần ( OR= 12,04, 95% CI 4,93 – 29,41). Kết luận: Ra ối sớm không phụ thuộc vào tuổi mẹ, nghề nghiệp, địa dư nhưng có liên quan tới tiền sử viêm nhiễm phụ khoa. Các triệu chứng ra nước ối, màu sắc nước ối, sốt trên lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng như bạch cầu, CRP, theo dõi chỉ số ối (AFI) trên siêu âm có ý nghĩa trong việc theo dõi, điều trị và tiên lượng các biến cố thai kì.
Thị Cẩm Nhung Nguyễn, Thị Minh Anh Nguyễn, Trọng Kha Huỳnh, Thị Kim Anh Phan, Thị Minh Tâm Lưu, Tú Cầm Trần
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 55-59; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.1324

Abstract:
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của việc sụp khoang phôi nhân tạo bằng phương pháp laser trên nhóm phôi nang trước khi thủy tinh hóa. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đây là một nghiên cứu hồi cứu được thực hiện tại IVFMD, Bệnh viện Mỹ Đức, từ tháng 11 năm 2020 đến tháng 1 năm 2021. Tiêu chuẩn nhận bao gồm các bệnh nhân có độ tuổi từ 18-35; số chu kỳ TTTON ≤2 và có ít nhất một phôi nang tốt trữ đông theo tiêu chuẩn của Gardner và Schoolcraft (1999). Tiêu chuẩn loại trừ là các chu kỳ xin cho noãn, chẩn đoán di truyền tiền làm tổ, nuôi trưởng thành noãn non và các trường hợp vợ có bất thường về tử cung. Bệnh nhân được chia thành hai nhóm: nhóm nghiên cứu với phôi nang làm sụp khoang phôi bằng phương pháp laser trước khi thủy tinh hóa và nhóm chứng bao gồm phôi nang nở rộng không sụp khoang phôi. Kết cục đánh giá chính bao gồm tỷ lệ sống của phôi sau rã đông. Các kết quả phụ: tỷ lệ thai lâm sàng, làm tổ, đa thai và sinh hóa. Kết quả nghiên cứu: Tổng cộng có 205 bệnh nhân tham gia nghiên cứu với 96 bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu và 109 bệnh nhân trong nhóm chứng. Không có sự khác biệt về đặc điểm nền giữa hai nhóm. Tỷ lệ sống sau rã của phôi nang là 100% ở cả hai nhóm. Về kết quả lâm sàng, không có sự khác biệt thống kê giữa hai nhóm về tỷ lệ có thai lâm sàng (58,3% so với 57,8%, p > 0,05), tỷ lệ làm tổ (50,8% so với 50,0%, p > 0,05), tỷ lệ đa thai (5,2% so với 7,3%, p > 0,05) và tỷ lệ thai sinh hóa (11,5% so với 5,5%, p > 0,05). Kết luận: Kỹ thuật làm sụp khoang phôi nang nhân tạo trước khi thuỷ tinh hoá bằng phương pháp laser chưa nhận thấy sự ảnh hưởng đến tỷ lệ sống sau rã đông của phôi nang, tỷ lệ thai làm tổ, thai lâm sàng cũng như đa thai.
Thị Ngọc Phương Trần, Thị Diễm Tuyết Hoàng, Nguyễn Khánh Trang Huỳnh
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 14-18; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.781

Abstract:
Trong thai kỳ, nỗi sợ giúp thai phụ chuẩn bị tâm lý đầy đủ cho một cuộc sinh tốt đẹp. Tuy nhiên, khi sợ hãi ở mức độ không kiểm soát được, ảnh hưởng nặng nề đến thể chất và tinh thần của thai phụ được gọi là chứng “sợ sinh con”. Tư vấn, hướng dẫn, tạo điều kiện để trải nghiệm quá trình sinh cho thai phụ sẽ giúp ổn định tâm sinh lý thai phụ trước sinh. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ kiến thức, thái độ và hành vi của thai phụ ở ba tháng cuối thai kỳ trước và sau khi tham gia chương trình giáo dục tiền sản tại Bệnh viện Hùng Vương và sự hài lòng. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 134 thai phụ ở 3 tháng cuối thai kỳ tại Bệnh viện Hùng Vương hội đủ các tiêu chí chọn mẫu trong thời gian từ 02/2019 – 08/2019. Kết quả: Chương trình “Hành trình vượt cạn” (HTVC) giúp thai phụ: Tỷ lệ thay đổi kiến thức: 99,3 KTC 95% [98,6 -99,9]; Tỷ lệ thay đổi thái độ 80,7 KTC05% [73,9 – 87,3] và hành vi 76,9 KTC 95% [ 69,8 -84]. Tỷ lệ sinh ngã âm đạo ( Đ) ở nhóm tham gia HTVC so với tỷ lệ chung của bệnh viện cùng thời gian là 48,6% KTC 95% [47,9 - 49,3] và 34,1% KTC 95% [25,7 - 42,5]. Tỷ lệ khách hàng hài lòng khi tham gia chương trình là 99,3% và mức độ rất hài lòng 78,4 KTC 95% [74,8 -84]. Kết luận: Thai phụ nên tham gia các chương trình giáo dục tiền sản và trong tương lai vấn đề này cần được nghiên cứu thêm Từ khóa: Chứng sợ sinh con, nghiên cứu cắt ngang, giáo dục tiền sản.
Quang Nhật Hồ, Quang Thanh Lê, Hồ Thúy Ái Phạm, Huy Hòa Phạm, Vũ Quốc Huy Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 43-48; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.1245

Abstract:
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ nhiễm Human Papilloma Virus (HPV) nguy cơ cao và yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm HPV nguy cơ cao ở phụ nữ có tổn thương tiền ung thư cổ tử cung (CTC) tại Bệnh viện Từ Dũ. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 788 phụ nữ từ 21 đến 68 tuổi đến khám tại Bệnh viện Từ Dũ từ 10/2019 tới 12/2020 và được làm xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung, xét nghiệm HPV nguy cơ cao và sinh thiết giải phẫu bệnh CỔ TỬ CUNG nếu có chỉ định. Kết quả: Tỉ lệ nhiễm HPV nguy cơ cao trên những phụ nữ có tổn thương tiền ung thư cổ tử cung được khảo sát là 52,8%, trong đó số phụ nữ bội nhiễm HPV 16, 18 và HPV nguy cơ cao khác chiếm cao nhất (13,7%), kế đến là nhiễm HPV 16 (12,01%) và HPV 18 (5,29%). Tuổi, số lần mang thai, và số con liên quan với bất thường tế bào học cổ tử cung (p<0,05). Có sự liên quan về mặt thống kê giữa tình trạng nhiễm HPV nguy cơ cao với các loại bất thường cổ tử cung và các loại mô bệnh học cổ tử cung (p<0,05). Tỉ lệ phụ nữ có bất thường tế bào loại tế bào vảy không điển hình có ý nghĩa chưa xác định (ASC-US) và HPV nguy cơ cao (+) chiếm tỉ lệ cao nhất 63,63% (175/275). Kết luận: Tỉ lệ nhiễm HPV nguy cơ cao trên các bệnh nhân có bất thường tế bào CỔ TỬ CUNG là 52,80%. Trong số các loại bất thường cổ tử cung, phân loại ASC-US và HPV nguy cơ cao (+) chiếm tỉ lệ cao nhất với đa số bệnh nhân biểu hiện niêm mạc kênh cổ tử cung bình thường. Các yếu tố: tuổi mẹ, số lần mang thai và số con có liên quan đến bất thường tế bào học cổ tử cung.
Khắc Tú Châu, Sĩ Phương Lê, Nguyên Cường Phạm, Văn Tân Đặng, Thị Thúy Minh Ngô
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 60-66; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.1246

Abstract:
Ung thư nguyên bào nuôi là dạng xâm lấn, ác tính nhất của nhóm bệnh lý nguyên bào nuôi, có thể gặp trong nhiều độ tuổi khác nhau, tỉ lệ tăng ở những bệnh nhân > 40 tuổi. Thường phát triển từ sự ác tính hóa của thai trứng, hiếm gặp sau thai kì bình thường, sẩy thai hay thai lạc chỗ. Vị trí thường gặp là tử cung, mặc dù hiếm nhưng có thể gặp ở buồng trứng, vòi trứng, âm đạo, cổ tử cung hay vùng chậu. Một bệnh nhân 37 tuổi, sau nạo thai trứng ác tính, xuất hiện biến chứng ung thư tế bào nuôi ở buồng tử cung có di căn ở cổ tử cung. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt tử cung toàn phần và hai phần phụ, diễn tiến hậu phẫu tốt và được điều trị bổ trợ hóa chất tiếp theo.
Tú Như Vương, Thị Ngọc Diễm Nguyễn, Dương Toàn Phạm, Ngọc Minh Châu, Thanh Nhã Yến Hê, Thị Thanh Tuyền Triệu, Thị Ngọc Lan Vương
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 36-42; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.1272

Abstract:
Mục tiêu: Khảo sát hiệu quả và tác dụng phụ của Dienogest trên bệnh nhân lạc nội mạc tử cung có triệu chứng đau đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Mỹ Đức. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo loạt ca gồm 40 trường hợp bệnh nhân lạc nội mạc tử cung có đau vùng chậu điều trị Dienogest tại Bệnh viện Đa khoa Mỹ Đức với liều 2mg/ngày trong khoảng thời gian từ 25/10/2020 đến 30/05/2021. Mỗi bệnh nhân được đánh giá đau theo thang điểm nhìn (VAS) với các mức từ 0 đến 10 điểm và theo dõi các tác dụng phụ của thuốc tại các mốc 01 tháng, 03 tháng và 06 tháng sau điều trị. Kết quả: Cải thiện trung vị điểm số đau VAS tại các thời điểm 01, 03 và 06 tháng so với trước điều trị lần lượt là -7 (-8,7; -3; p<0,0001), -7 (-10; -5; p<0,0001) và -8 (-10; -6; p<0,0001). Các tác dụng phụ thường gặp của Dienogest bao gồm rong kinh (12,1%), mụn mặt (6,1%), bốc hỏa (3%), dấu hiệu khô âm đạo (3%). Hiệu quả giảm đau sau điều trị Dienogest có xu hướng liên quan thuận với mức độ đau trước điều trị, mặc dù chưa có ý nghĩa thống kê (p=0,06). Kết luận: Dienogest là một chọn lựa điều trị giảm đau hiệu quả và dung nạp tốt đối với những bệnh nhân lạc nội mạc tử cung (LNMTC).
Xuân Kiên Đoàn, Thị Hằng Đoàn, Thanh Tùng Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 49-54; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.792

Abstract:
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm kiểu hình và kết quả điều trị vô sinh bằng thụ tinh trong ống nghiệm trên bệnh nhân hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu thực hiện trên 140 bệnh nhân hội chứng buồng trứng đa nang được chẩn đoán và phân loại kiểu hình theo Rotterdam. Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị vô sinh bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) theo kiểu hình. Kết quả: Kiểu hình D thường gặp nhất chiếm 44,3%, kiểu hình B ít gặp nhất chiếm 8,6%, kiểu hình C và kiểu hình A có tần suất lần lượt là 30,0% và 17,1%. Không có sự khác biệt về nồng độ AMH, LH, tỉ lệ LH/FSH giữa các nhóm kiểu hình. Không có sự khác biệt về chất lượng phôi ngày 3 giữa các nhóm kiểu hình. Tỉ lệ thai lâm sàng trung bình khi thực hiện TTTON là 44,3%, trong đó tỉ lệ có thai lâm sàng ở nhóm A là 54,2%, nhóm B là 50,0%, nhóm C và nhóm D lần lượt là 40,5%, và 41,9%. Tỉ lệ thai sinh hóa, thai lâm sàng, thai diễn tiến không có sự khác biệt giữa các nhóm kiểu hình. Kết luận: Bệnh nhân HCBTĐN có kiểu hình D gồm rối loạn phóng noãn và hình ảnh buồng trứng đa nang là thường gặp nhất, kiểu hình B gồm cường androgen và rối loạn phóng noãn ít gặp nhất. Không có sự khác biệt về chất lượng phôi ngày 3 và tỉ lệ thai sinh hóa, thai lâm sàng và thai diễn tiến giữa các nhóm kiểu hình.
Back to Top Top