Refine Search

New Search

Results: 171

(searched for: publisher_group_id:22359)
Save to Scifeed
Page of 4
Articles per Page
by
Show export options
  Select all
Quân Từ Sỹ, Tươi Nguyễn Văn, Dương Lê Văn, Tâm Nguyễn Thành, Truyền Trần Thế
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 1034-1046; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.9.3

Abstract:
Việc sử dụng sỏi nhẹ keramzit thay thế cốt liệu thô trong bê tông đã từng bước được áp dụng trong các công trình xây dựng tại Việt Nam và trên thế giới, giúp giảm đáng kể trọng lượng phần trên của kết cấu, tiết kiệm được chi phí liên quan đến cẩu lắp cũng như kết cấu phần dưới. Bên cạnh đó, tính toán chiều dài triển khai của cốt thanh gia cường dựa trên cơ sở ứng xử dính bám với bê tông nền là việc làm bắt buộc đối với công tác thiết kế bố trí cốt thanh polimer sợi thủy tinh (GFRP) trong kết cấu bê tông. Các tiêu chuẩn cũng khuyến cáo có sự suy giảm nhất định của ứng xử dính bám đối với trường hợp của bê tông nhẹ, kéo theo sự suy giảm khả năng chịu tải của các cấu kiện.Do vậy, các thí nghiệm kéo tụt thanh GFRP ra khỏi mẫu (pull out test) đã được tiến hành trên các mẫu bê tông nhẹ hình lập phương có cùng thành phần cấp phối với ba loại đường kính thanh khác nhau và với chiều dài neo gấp năm lần đường kính thanh. Các tiêu chuẩn của Mỹ, Canada và Nhật bản đã được sử dụng để tham chiếu cho thấy các tính toán lý thuyết thiên về an toàn hơn so với kết quả thí nghiệm thu được. Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho phép đưa ra các khuyến cáo cho công tác thiết kế, cụ thể là trong trường hợp của kết cấu có sử dụng bê tông sỏi nhẹ và cốt thanh gia cường GFRP.
Cam Lê Xuân, Vinh Nguyễn Văn, Hải Hoàng Hồng, Cúc Nguyễn Thị Kim
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 1107-1117; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.9.9

Abstract:
Việc sử dụng dữ liệu ba chiều (3D) trong lĩnh vực đo lường công nghiệp ngày càng trở nên phổ biến do sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật quét laser. Tuy nhiên, độ chính xác và độ không đảm bảo đo của các loại phương pháp này chưa được nghiên cứu nhiều. Trong nghiên cứu này, một mô hình đánh giá và trình bày độ không đảm bảo đo cho phép đo sai lệch độ trụ của các chi tiết tròn xoay đã được đề xuất và áp dụng cho thiết bị đo biên dạng chi tiết tròn xoay sử dụng hệ thống đo Laser scan micrometer (LSM). Các thí nghiệm đã được thực hiện bằng cách sử dụng phương pháp đảo ngược để đo sai lệch độ trụ trong phòng thí nghiệm với hai sai lệch thành phần theo mặt cắt ngang và mặt cắt dọc trục. Kết quả thực nghiệm phép đo độ trụ bằng phương pháp quét laser đo biên dạng chi tiết tròn xoay chế tạo có độ không đảm bảo đo mặt cắt ngang trục là 1,68 m và dọc trục là 6 µm với xác xuất tin cậy 95%
Tuan Tran Anh, Hai Hoang Viet, Tu Do Anh, Nhiem Tran Duc
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 52-60; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.1.5

Abstract:
Orthotropic steel bridge decks (OSBDs) have been widely used in long span bridges with many advantages, however, the long-term performance of the asphalt wearing course is still questionable. There is a lack of understanding the causes of cracking and adhesion failure between the tack coat and the steel plate, etc. Therefore, this paper focuses on the adhesion failure between the asphalt wearing course and the steel plate, and the temperature influence on the mechanical behavior of the orthotropic deck. The five-point bending beam test model using the finite element model is used in this investigation in order to clarify the effect of ratio of adhesion failure and the temperature on the mechanical behavior of the OSBD. The ratio of adhesion failure varies from 0.1 to 0.5, and the temperature changes from 30oC to 60oC. The results reveal the influence of temperature and adhesion failure on the mechanical behavior of the OSBD
Long Ho Viet, Trang Trinh Thi, Ba Ho Xuan
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 1-15; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.1.1

Abstract:
Artificial neural network (ANN), a powerful technique, has been used widely over the last decades in many scientific fields including engineering problems. However, the backpropagation algorithm in ANN is based on a gradient descent approach. Therefore, ANN shows high potential in local stagnancy. Besides, choosing the right architecture of ANN for a specific issue is not an easy task to deal with. This paper introduces a simple, effective hybrid approach between an optimization algorithm and a traditional ANN for damage detection. The global search-ability of a heuristic optimization algorithm, namely grey wolf optimizer (GWO), can solve the drawbacks of ANN and also improve the performance of ANN. Firstly, the grey wolf optimizer is used to update the finite element (FE) model of a laboratory steel beam based on the vibration measurement. The updated FE model of the tested beam then is used to generate data for network training. For an effective training process, GWO is utilized to identify the optimal parameters for ANN, such as the number of the hidden nodes, the proportion of dataset for training, validation, test, and the training function. The optimization process provides an optimal structure of ANN that can be used to predict the damages in the beam. The obtained results confirm the accuracy, effectiveness, and reliability of the proposed approach in (1) alleviating the differences between measurement and simulation and (2) damage identification including damage location and severity, in the tested beam considering noise effects. For both applications, dynamic characteristics like natural frequencies and mode shapes of the beam derived from the updated FE model, are collected to calculate the objective function
Hải Nguyễn Thanh, Thạch Đặng Quang, Văn Cồ Như, Khuyến Trần Văn
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 1118-1130; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.9.10

Abstract:
Bộ đếm trục là một thiết bị quan trọng để hệ thống điều khiển tín hiệu đường sắt hoạt động an toàn và chính xác. Hiện nay thiết bị đếm trục nhập khẩu được dùng phổ biến trong hệ thống tín hiệu đường sắt, bài báo này đưa ra giải pháp chế tạo thiết bị đếm trục sử dụng cho đường sắt Việt nam. Nguyên lý của cảm biến dựa vào sự thay đổi từ thông qua cuộn thu khi bánh tàu đi qua cảm biến, mạch xử lý tín hiệu căn cứ vào biên độ và pha điện áp từ cuộn thu nhận dạng trạng thái của bánh tàu chiếm dụng vùng không gian đặt cảm biến. Cảm biến và mạch xử lý đã được chế tạo và thử nghiệm trên một số tuyến thuộc đường sắt Việt nam, kết quả cho thấy ngưỡng giữa trạng thái có tàu và không có tàu được phân biệt rõ ràng. Giá trị đếm trục được truyền về trung tâm điều khiển qua mạng truyền thông CAN độ tin cậy cao. Ứng dụng của thiết bị chế tạo có thể được dùng cho ga điện khí tập trung, hệ thống tự động cảnh báo đường ngang, hệ thống đóng đường tự động
The Nguyen Tien, Quan Do Hai, Anh Pham Ba Viet, Thien Nguyen Luong
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 61-74; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.1.6

Abstract:
Generally, friction/perturbation compensation is an important issue in high-precision motion control applications. In particular, when the system under control undergoes low-speed or reversal motions, the friction force and external perturbations will degrade motion accuracy. In this paper, we study analysis of perturbed frictional contact problems. Its shows how homotopy perturbation techniques and projection can be integrated in control-based approach to reanalyze the perturbed frictional contact problems. Thus, the perturbed non linear problem is decomposed into perturbed linear problems dedicated to each component in contact. Each solution of perturbed linear problems is approximated. A numerical application is performed to verify the efficiency and the robustness of the proposed method. The proposed method has been developed to be compatible within a context of multiple sampling (such as parametric analysis or design of experiments). The proposal relies on a control based method currently used in automation domain. A Fuzzy Logic Controller (FLC) is designed to link the normal gaps identified between the bodies and the normal contact pressures applied at the interface. Finally, a design of experiments is proposed to quantify the effects of input perturbations on output mechanical data
Thiệu Đỗ Xuân
Transport and Communications Science Journal, Volume 70, pp 11-20; https://doi.org/10.25073/tcsj.70.1.39

Abstract:
Xử lý tín hiệu điện tim ECG sử dụng biến đổi wavelet đã được thực hiện hiệu quả trong chẩn đoán y học. Việc xử lý tín hiệu điện tim cơ bản là khử nhiễu và tách các điểm đặc trưng phát hiện các sóng, đỉnh sóng, tính nhịp tim. Các phương pháp xử lý tín hiệu truyền thống thường sử dụng phép biến đổi wavelet rời rạc DWT. Tuy nhiên, DWT có thể sinh ra những dao động giả tạo làm méo dạng tín hiệu. Bài báo đề xuất một giải thuật ngưỡng wavalet dịch bất biến dựa trên cơ sở biến đổi wavelet rời rạc dịch bất biến TIDWT để khử nhiễu tín hiệu điện tim, loại bỏ được những nhiễu phát sinh gây ra do quá trình biến đổi tín hiệu, nâng cao hiệu quả khử nhiễu. Hiệu năng của thuật toán đề xuất sẽ được đánh giá bằng mô phỏng trên đồ thị và tính toán tỉ số tín hiệu trên nhiễu SNR.
Thọ Phạm Đức, Truyền Trần Thế, Thắng Bùi Anh, Ba Hồ Xuân
Transport and Communications Science Journal, Volume 70, pp 63-72; https://doi.org/10.25073/tcsj.70.1.44

Abstract:
Nghiên cứu này sử dụng mô hình lưới (lattice model) để mô phỏng sự hình thành và phát triển các vi khe nứt và ảnh hưởng của nó đến hệ số thấm của cấu kiện bê tông tăng cường sợi thép (FRC). Trong mô hình này, bê tông được xem là bão hòa nước và bỏ qua ảnh hưởng của hiện tượng mao dẫn. Luật ứng xử kết hợp cơ-thủy được phát triển dựa trên mô hình cơ học phá hủy Mazars với sự tăng độ thấm của bê tông là 1 hàm lập phương của độ mở rộng vết nứt. So sánh kết quả mô phỏng với thực nghiệm cho thấy mô hình đề xuất là 1 công cụ hữu hiệu cho phép đánh giá độ mở rộng vết nứt và ảnh hưởng của nó đến sự thay đổi hệ số thấm của bê tông sợi thép, có vai trò quan trọng trong việc phân tích độ bền của các kết cấu bê tông cốt sợi thép.
Việt Trần Bảo
Transport and Communications Science Journal, Volume 70, pp 53-62; https://doi.org/10.25073/tcsj.70.1.43

Abstract:
Bài báo có nội dung chính là thiết lập mối quan hệ giải tích giữa độ rỗng và cường độ của vật liệu bê tông rỗng. Dựa trên mô hình cải tiến 3 pha quả cầu lồng nhau với pha lỗ rỗng hình cầu được bao quanh bởi lớp vỏ vật liệu bê tông nằm trong miền vật liệu trung bình, trường ứng suất và biến dạng của vật liệu được tính toán, từ đó các đặc trưng trung bình về mô đun đàn hồi và cường độ được thiết lập phụ thuộc vào các thông số của vật liệu. Một số so sánh giữa kết quả lý thuyết và thực nghiệm được thực hiện để kiểm chứng hiệu quả của mô hình.
, Tuấn Trần Anh, Hải Nguyễn Đình
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 893-907; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.4

Abstract:
Trong những năm gần đây, phương pháp phase field là một công cụ mô phỏng đáng tin cậy và hiệu quả để dự đoán hư hỏng trong kết cấu chứa các loại vật liệu xây dựng. Trong kết cấu nhiều pha vật liệu, hình dạng mặt phân giới giữa các pha thường rất phức tạp, điều này gây khó khăn trong việc xác định ranh giới của các pha này dẫn tới kết quả mô phỏng không chính xác. Do đó, mục tiêu của bài báo này: (i) sử dụng phương pháp phase field để mô phỏng sự hình thành và lan truyền vết nứt trong kết cấu chứa nhiều pha vật liệu với sự tương tác giữa hư hỏng trong nội tại các pha (mô tả bằng biến phase field d) và hư hỏng mặt phân giới của các pha (đại điện bằng biến phase field bổ sung ); (ii) xây dựng một hàm con bổ sung xử lý các định dạng ảnh của kết cấu với mỗi màu đại diện cho một pha vật liệu, dựa trên nguyên lý một màu sẽ có một dải số đại diện để xác định hình dạng mặt phân giới. Các kết quả đạt được của bài báo này cho thấy phương pháp phase field hiện tại kết hợp với hàm con bổ sung có thể mô phỏng chính xác hư hỏng của kết cấu chứa nhiều pha vật liệu thành phần.
Đức Nguyễn Đắc, Tùng Quách Thanh
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 908-919; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.5

Abstract:
Trong quy trình thiết kế truyền thống, sử dụng bản vẽ trong mặt phẳng (thường là CAD2D) là công cụ chính để thể hiện ý tưởng thiết kế. Các bản vẽ 2D theo thiết kế truyền thống thường không có liên hệ về mặt không gian và quản lý. Để thể hiện thiết kế của một công trình các kỹ sư dùng các bản vẽ mặt đứng, mặt bằng, mặt cắt, các ghi chú...do đó đôi khi khó khăn trong việc hình dung ra hình dạng không gian của kết cấu cũng như khó lường trước được các xung đột trong công trình. Với mô hình thông tin công trình (Building Information Modeling - BIM), công trình xây dựng được thể hiện trên môi trường 3D, có thuộc tính về hình học, vật liệu và các bản vẽ 2D sẽ được tạo ra từ mô hình 3D việc này giúp các bên tham gia dự án có hình ảnh 3D tổng thể về công trình, điều chỉnh thiết kế và xử lý được các xung đột ngay từ khi xây dựng mô hình. Tại Việt Nam, việc ứng dụng BIM cho các công trình cầu còn khá mới mẻ, lý do quan trọng bởi các đơn vị tham gia dự án còn khá hoài nghi về quy trình áp dụng BIM cũng như tính khả thi của nó so với thiết kế truyền thống, bên cạnh đó đội ngũ nhân lực cũng như hạ tầng công nghệ thông tin còn chưa được đầu tư đúng mức dẫn đến cần chi phí đầu tư ban đầu lớn về phần cứng cũng như các phần mềm trong hệ sinh thái BIM... Bài viết xin chia sẻ về quy trình làm việc khi ứng dụng BIM cho công trình cầu, đồng thời nêu ra những khó khăn thách thức và giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình áp dụng BIM được đầy đủ, đồng bộ và hiệu quả.
Ngọc Trần Cao Thanh, Huy Nguyễn Xuân, Bình Nguyễn Nghĩa, Hậu Phạm Minh
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 932-944; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.7

Abstract:
Dầm bê tông cốt GFRP được sử dụng ngày càng phổ biến trong thời gian gần đây do khả năng chống ăn mòn của cốt GFRP. Việc gia cường khả năng chịu tải của loại kết cấu này có thể phải được thực hiện ngay trong quá trình thi công của công trình do yêu cầu từ việc thay đổi công năng của kết cấu. Bài báo trình bày về kết quả thí nghiệm gia cường kháng cắt cho dầm bê tông cốt GFRP được gia cường kháng cắt bằng bê tông cốt lưới dệt (TRC). Hai mẫu dầm bê tông cốt GFRP có tỉ số nhịp chia cho chiều cao hữu hiệu (a/d) là 1,7, không được bốt trí cốt đai được thí nghiệm chịu cắt ba điểm. Trong hai mẫu này, một mẫu dầm không được gia cường phục vụ như mẫu đối chứng và mẫu còn lại được gia cường hai lớp bê tông cốt lưới dệt. Kết quả thí nghiệm cho thấy, bê tông cốt lưới dệt đem lại hiệu quả tốt trong việc gia cường khả năng kháng cắt của dầm bê tông cốt GFRP. Kết hợp từ tiêu chuẩn ACI 318-19 và mô hình bong tách từ nghiên cứu trước cho kết quả tương đối chính xác kết quả thực nghiệm cường độ kháng cắt cực đại của dầm bê tông cốt GFRP và dầm được gia cường bằng lưới dệt TRC.
Khánh Nguyễn Văn, Bình Nguyễn Đình, Trung Nguyễn Bảo,
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 967-981; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.10

Abstract:
Trong vài thập kỷ gần đây, nhiều nghiên cứu về mô hình dự báo dựa trên chuỗi thời gian mờ đã được đề xuất. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến kết quả dự báo đã được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu như kỹ thuật chia khoảng tập nền, các luật dự báo và kỹ thuật giải mờ. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế và chưa làm hài lòng người sử dụng. Trong bài báo này, chúng tôi đề xuất một phương pháp nâng cao hiệu quả của mô hình dự báo chuỗi thời gian mờ trên cơ sở kết hợp tối ưu các khoảng chia tập nền bằng thuật toán tối ưu bầy đàn và kỹ thuật giải mờ mới hiệu quả. Mô hình dự báo được đề xuất được ứng dụng để dự báo số sinh viên nhập học của Trường Đại học Alabama từ năm 1971 đến năm 1992. Kết quả thực nghiệm cho thấy, mô hình dự báo được đề xuất hiệu quả hơn các mô hình dự báo hiện có đối với cả chuỗi thời gian mờ bậc nhất và chuỗi thời gian mờ bậc cao.
Hải Nguyễn Mạnh, Hoà Trần Ngọc, Thành Bùi Tiến, Hưng Trần Việt, Tiến Nguyễn Duy
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 866-881; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.2

Abstract:
Thuật toán tối ưu hoá chim cúc cu (Cuckoo Search – CS) là một thuật toán tiến hóa phổ biến đã được sử dụng để giải quyết nhiều vấn đề tối ưu hóa trong nhiều thập kỷ qua. Tuy nhiên, một trong những nhược điểm cơ bản của CS là thuật toán này cố định vận tốc của các quần thể trong toàn bộ quá trình tìm kiếm giải pháp tối ưu, vì vậy giảm sự linh hoạt trong quá trình di chuyển của các phần tử. Ngoài ra CS không chỉ phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của quần thể ban đầu mà còn không có các khả năng như giao chéo hay đột biến để cải thiện chất lượng của các thế hệ mới. Để khắc phục nhược điểm này của CS, trong nghiên cứu này, một CS cải tiến (ICS) kết hợp với thuật toán di truyền (GA) được đề xuất. Để chứng minh được hiệu quả của phương pháp được đề xuất (Thuật toán lai giữa GA và ICS - HGAICS), một kết cấu cầu giàn thép nhịp lớn đã được sử dụng. HGAICS được sử dụng để giảm sự khác biệt giữa kết quả mô hình số và mô hình thực nghiệm, xác định các tham số bất định của kết cấu. Kết quả thu được cho thấy HGAICS vượt trội hơn GA và CS về độ chính xác và giảm thời gian tính toán so với GA.
, Hòa Phạm Duy
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 882-892; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.3

Abstract:
Nghiên cứu mô phỏng ứng xử cơ học của vật liệu bê tông là một nội dung rất quan trọng trong quá trình thiết kế, đánh giá hiện trạng công trình trong thực tế. Để hạn chế một số nhược điểm mô phỏng của phương pháp liên tục, nội dung của nghiên cứu này trình bày quá trình mô phỏng 3D vết nứt trong vật liệu bê tông sử dụng ứng suất chính trong phương pháp phần tử rời rạc (Discrete Element Method - DEM). Mã nguồn mở Granular Object Oriented (GranOO) đã được sử dụng. Trong GranOO, vật liệu liên tục được coi là một tập hợp gồm các phần tử có hình cầu liên kết với nhau. Ứng xử cơ học của vật liệu được mô phỏng thông qua các dầm liên kết nối giữa các phần tử tiếp xúc. Các thông số vi mô của các dầm này được xác định thông qua quá trình hiệu chỉnh. Nghiên cứu đã giới thiệu quá trình mô hình hóa hình học và mô hình hóa cơ học trong DEM. Quá trình mô phỏng thí nghiệm số kéo giản đơn mẫu bê tông hình lập phương có cạnh 10 cm đã được thực hiện ở miền đàn hồi và phá hủy. Kết quả mô phỏng thu được rất sát với lý thuyết về giá trị mô đun Young, cũng như sự xuất hiện và phát triển của vết nứt.
Tuấn Đỗ Đức, Toàn Nguyễn Đức
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 850-865; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.1

Abstract:
Trong quá trình tính toán sức kéo đoàn tàu đường sắt, sau khi giải quyết các bài toán về xác định và kiểm nghiệm khối lượng đoàn tàu, xây dựng biểu đồ hợp lực đơn vị và tính toán hãm đoàn tàu, bài toán cuối cùng đặt ra là tính toán vận tốc và thời gian vận hành của đoàn tàu trên khu gian hoặc tuyến đường. Do tính đa dạng của các loại đoàn tàu, nên khối lượng tính toán là khá lớn, chiếm nhiều thời gian nếu tiến hành bằng phương thức thủ công truyền thống Vì vậy, trên cơ sở lý thuyết đã biết, bằng ngôn ngữ lập trình Java đã tiến hành xây dựng chương trình tính toán vận tốc và thời gian vận hành của đoàn tàu áp dụng cho ngành đường sắt Việt Nam. Chương trình có chức năng vẽ các biểu đồ và ở các chế độ vận hành chạy đà, kéo và hãm cho các loại đoàn tàu trên bất kỳ khu gian hoặc tuyến đường nào. Chương trình cũng cho phép tăng nhanh tốc độ, đảm bảo tính linh hoạt và thuận tiện trong quá trình tính toán với các phương án lập tàu khác nhau.
Trung Nguyễn Thành, Thắng Vũ Toàn, Dũng Vũ Tiến
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 982-993; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.11

Abstract:
Sai lệch độ trụ là sai số tổng hợp đóng vai trò quan trọng trong đánh giá chất lượng các chi tiết cơ khí. Việc đánh giá sai lêch độ trụ thường dựa trên dữ liệu điểm đo xác định bằng máy đo ba toạ độ hoặc các máy quét 3D, máy đo độ tròn. Hiện nay, có 4 thuật toán được sử dụng để tính sai lệch độ trụ: mặt trụ bình phương tối thiểu (Least Square Cylinder – LSC), mặt trụ ngoại tiếp nhỏ nhất (Mimimum Circumscibed Cylinder – MCC), mặt trụ nội tiếp lớn nhất (Maximum Inscribed Cylinder – MIC) và mặt trụ miền tối thiểu (Minumum Zone Cylinder – MZC). Bài báo trình bày phương pháp sử dụng thuật toán tối ưu tính toán đường kính, sai lêch độ trụ từ bộ dữ liệu điểm đo và so sánh kết quả theo cả 4 phương pháp trên với kết quả của máy đo toạ độ (Coordinate Measuring Machine - CMM) với độ sai lệch không vượt quá 0,8 µm.
Bằng Lý Hải, Anh Nguyễn Thùy, Vân Mai Thị Hải, Hùng Nguyễn Hữu
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 994-1009; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.12

Abstract:
Kết cấu nền – mặt đường ô tô bao gồm các lớp mặt đường và nền đất, trong đó, tác dụng chính của nền là phân bố, giảm ứng suất dọc từ trên mặt đường xuống khi chịu tác dụng của tải trọng. Để đảm bảo cường độ và ổn định của kết cấu nền – mặt đường, nền đất phải có đủ cường độ. Đặc trưng cho cường độ của đất nền là mô đun đàn hồi, là một thông số quan trọng sử dụng trong tính toán, kiểm toán kết cấu nền - mặt đường. Tuy nhiên, việc xác định mô đun đàn hồi của vật liệu đất đắp nền đường bằng các phương pháp thí nghiệm trong phòng hay thực nghiệm ngoài hiện trường như hiện nay còn công phu, thiết bị thí nghiệm cồng kềnh, tốn kém về thời gian, chi phí. Trong nghiên cứu này, mô hình mạng nơ ron nhân tạo với thuật toán One-step-secant được đề xuất để dự đoán mô đun đàn hồi của vật liệu đất nền. Cơ sở dữ liệu trong nghiên cứu gồm 418 kết quả thí nghiệm được sử dụng để phát triển mô hình mạng nơ ron nhân tạo (ANN). Kết quả cho thấy mô hình ANN là một công cụ hiệu quả trong việc dự đoán mô đun đàn hồi đất nền (RMSE=2.9401, MAE=2.3075, R2=0.9858), giúp tiết kiệm thời gian, giảm chi phí thí nghiệm. Ngoài ra, mô hình ANN còn đánh giá được mức độ ảnh hưởng của từng tham số đến mô đun đàn hồi của vật liệu đất đắp nền đường, trong đó ứng suất giới hạn là thông số quan trọng nhất.
Lân Nguyễn Ngọc, Quyết Trương Văn
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 920-931; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.6

Abstract:
Hỗn hợp asphalt tái chế thường có độ cứng cao do sử dụng bitum đã bị lão hoá có trong RAP, vì vậy sức kháng nứt trở thành mối quan tâm, đặc biệt khi hỗn hợp có hàm lượng RAP cao. Ngoài ra, sự hoá già của bitum trong hỗn hợp asphalt cũng là một trong những nguyên nhân gây ra các hư hỏng liên quan đến nứt. Bitum bị hoá già có thể xảy ra trong quá trình sản xuất, thi công và khai thác mặt đường. Vì vậy, đánh giá sức kháng nứt của bê tông asphalt là một trong những chỉ tiêu cần được thực hiện để có thể nâng cao được chất lượng và độ bền của mặt đường asphalt trong thời gian khai thác. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm đánh giá sức kháng nứt của hỗn hợp bê tông asphalt tái chế ấm có tỷ lệ RAP bằng 30% và 50%. Sức kháng nứt của hỗn hợp asphalt được đánh giá thông qua chỉ số kháng nứt (Cracking Tolerance Index – CTIndex). Ba điều kiện hoá già được thực hiện với hỗn hợp ở trạng thái rời sau khi trộn bao gồm hoá già ngắn hạn 4 giờ 135oC, hoá già dài hạn 24 giờ 135oC và hoá già dài hạn 8 ngày ở 95oC sau khi hoá già ngắn hạn. Trên cơ sở kết quả thí nghiệm chỉ số kháng nứt CTIndex ứng với các điều kiện hoá già khác nhau, nghiên cứu đưa ra được các kết luận ảnh hưởng của các điều kiện hóa già khác nhau đến sức kháng nứt của hỗn hợp bê tông asphalt tái chế ấm có tỷ lệ RAP cao.
Hưởng Nguyễn Văn
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 957-966; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.9

Abstract:
Sử dụng gân vuốt có vai trò quan trong trong công nghệ dập tấm bởi vì nó có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm kim loại tấm. Gân vuốt thường được sử dụng khi dập các chi tiết dạng không đối xứng, hình dạng phức tạp và dập vuốt sâu để cải thiện dòng chảy của vật liệu vào cối. Tuy hình côn thấp là một dạng chi tiết đối xứng nhưng chiều cao tương đối nhỏ nên gây ra sự đàn hồi mạnh do đó trong quá trình tạo hình vật liệu không được tiếp xúc hoàn toàn với bề mặt của dụng cụ. Kết quả là rất dễ xuất hiện nhăn trên bề mặt gây ra phế phẩm. Vì vậy phôi tấm phải được kéo căng bằng gân vuốt. Bài báo đưa ra kết quả nghiên cứu gân vuốt khi dập chi tiết hình côn thấp với các kích thước cụ thể của nó cho ba trường hợp như không sử dụng gân vuốt trên hệ thống chặn, với gân vuốt hình tròn và với gân vuốt hình chữ nhật thông qua mô phỏng số bằng phần mềm Dynaform 5.9 và thực nghiệm với khuôn dập được chế tạo với các kết quả đưa ra từ mô phỏng để xác định được các thông số hợp lý của gân vuốt.
Lê Bùi Hải, Khoa Đỗ Đăng, Tuấn Lê Anh
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 945-956; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.8

Abstract:
Nghiên cứu về điều khiển dao động của các hệ thống treo chủ động và bán chủ động trên xe ô tô ngày càng được quan tâm. Trong bài báo này, việc khảo sát về sự lựa chọn các biến trạng thái để tìm biến điều khiển trong bộ điều khiển dựa trên lý thuyết đại số gia tử được thực hiện cho một hệ thống treo chủ động của mô hình một phần tư xe ô tô. Các biến trạng thái có thể được sử dụng bao gồm chuyển vị, vận tốc và gia tốc theo phương thẳng đứng của thân xe và bánh xe. Bằng việc khảo sát ảnh hưởng của các biến trạng thái đến hiệu quả của bộ điều khiển dựa trên đại số gia tử gồm 2 biến trạng thái đầu vào và 1 biến điều khiển đầu ra cho phép xác định được các biến trạng thái phù hợp với các mục tiêu điều khiển. Kết quả mô phỏng số cho thấy bộ điều khiển đạt hiệu quả cao nhất khi sử dụng vận tốc và gia tốc của thân xe làm biến trạng thái. Cách tiếp cận của bài báo có thể được mở rộng cho những đối tượng được điều khiển khác nhau để tìm ra các biến trạng thái phù hợp, nhất là đối với những bộ điều khiển sử dụng hệ luật định tính như các bộ điều khiển dựa trên lý thuyết tập mờ hay đại số gia tử.
Hiếu Hà Minh
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 763-777; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.6.8

Abstract:
Lợi thế cạnh tranh tiếp cận từ gốc độ khách hàng là thước đo quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng của cảng container tại Việt Nam. Vì vậy, mục tiêu nghiên cứu là xác định các yếu tố của cảng ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh cảng container tiếp cận từ khách hàng để từ đó giúp cảng nâng cao năng lực cạnh tranh. Bài báo sử dụng phương pháp định tính kết hợp với định lượng, sử dụng thang đo Likert 5 điểm và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để phân tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy 6 yếu tố: cơ sở hạ tầng cảng, vị trí cảng, năng lực kết nối nội địa, chất lượng dịch vụ, chi phí logistics, độ tin cậy ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh cảng container từ đó giúp cho doanh nghiệp kinh doanh cảng container có các chính sách và quyết định để nâng cao năng lực cũng như lợi thế cạnh tranh.
Guigui Christelle, Nga Vu Thi Thu
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 841-849; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.7.6

Abstract:
Membrane bioreactor (MBR) has been increasingly used for municipal wastewater treatment and reuse due to its good effluent quality. However, membrane fouling remains the major limitation of MBR. Understanding fouling is still a key issue for a more sustainable operation of MBRs. Thus, this research presents the influence of specific cake resistance (α) on the fouling propensity in the MBR. Correlation between α value with fouling resistance (Rf), fouling rate (dTMP/dt), especially of peak height 100-1000 kDa protein-like SMPs was investigated. The result reported that the α value was strongly correlated with the dTMP/dt in the MBR (R2 value of close to 1). In this study, however, there is an obvious discrepancy between the fouling resistance calculated from the resistance in the series model and the α value in the supernatant filtration. These observations demonstrated that the fouling propensities of the membrane could be monitored by the transmembrane pressure and the fouling characteristics, include fouling resistance and specific cake resistance in the filtration cell.
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 702-712; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.6.3

Abstract:
Với các cầu ở miền núi và trung du của nước ta vào mùa lũ sự tích tụ các vật trôi như cây trôi (cây gỗ, tre, nứa, ...) hay bùn đá là một vấn đề phổ biến. Sự tích tụ cây trôi ở mố, trụ cầu gây ảnh hưởng xấu đến chế độ thủy lực của dòng chảy dưới cầu, làm tăng nguy cơ ngập lụt ở thượng lưu, tăng chiều sâu hố xói dưới cầu, có thể gây là sập cầu. Để phòng tránh sự tích tụ của cây trôi ở khu vực cầu có hai biện pháp cơ bản là biện pháp kết cấu và phi kết cấu. Vấn đề lựa chọn giải pháp phòng tránh sự tích tụ cây trôi phù hợp với điều kiện cụ thể của công trình cầu, cần đưa ra bộ tiêu chí đánh giá về nhiều mặt. Trong nội dung bài báo tác giả kiến nghị 03 biện pháp phòng tránh tích tụ của cây trôi áp dụng cho khu vực cầu Ngòi Thia (thuộc tỉnh lộ 174, tỉnh Yên Bái) là làm lệch hướng cây trôi, làm tường cánh dẫn hướng, lắp máy quét cây trôi ở thượng lưu các trụ cầu. Cho dù để lựa chọn chính xác biện pháp nào phải có sự so sánh đầy đủ về mặt Kinh tế - Kỹ thuật, tuy nhiên để đối phó với sự tích tụ của cây trôi một cách hiệu quả nhất thì ngay từ bước thiết kế phải đảm bảo giảm khả năng mắc kẹt và tích tụ các cây trôi như: 1) Tạo tĩnh không cần thiết giữa mực nước thiết kế và cao độ đáy dầm cầu; 2) Bố trí các trụ/mố có khoảng cách thích hợp và không nên đặt trụ trong đường đi của cây trôi (không đặt trụ trong lòng chính của sông suối).
Thành Vũ Bá, Thức Ngô Văn, Thành Bùi Tiến, Truyền Trần Thế, Tú Đỗ Anh
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 672-686; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.6.1

Abstract:
Trong thời gian gần đây, phương pháp phase field là một công cụ mô phỏng mạnh để dự đoán sự phát triển vết nứt trong kết cấu. Phương pháp này sử dụng biến phase field và hàm suy biến để mô tả sự suy giảm năng lượng tồn tại trong vật thể cũng như trạng thái của vết nứt dựa vào việc giải quyết kết hợp giữa bài toán phase field và bài toán cơ học. Trong nghiên cứu này, phương pháp phase field được sử dụng để xác định: (i) sự hình thành và lan truyền vết nứt trong kết cấu; (ii) đường cong ứng xử giữa tải trọng và chuyển vị; (iii) đường cong quan hệ giữa tải trọng và độ mở rộng miệng vết nứt do chuyển vị (CMOD) và (iv) công cơ học phá hủy của dầm bê tông chịu uốn ba điểm. Các mẫu dầm này được làm từ bê tông cường độ cao với sự thay đổi tỷ lệ chất kết dính bổ sung nano-silica (NS) từ 0% tới 1,5%. Kết quả tính toán từ phương pháp mô phỏng phù hợp với kết quả thực nghiệm và lý thuyết của các nghiên cứu trước đó. Phương pháp phase field có thể là một công cụ đáng tin cậy và hiệu quả để mô phỏng sự hình thành và lan truyền vết nứt và ứng xử cơ học của các kết cấu bê tông cường độ cao và bê tông tính năng cao.
Nguyen Minh Hieu
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 778-788; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.7.1

Abstract:
The COVID-19 outbreak has resulted in adopting massively social distancing measures to tame the human-to-human transmission of the new coronavirus and protect public health. These intervention policies have caused changes in travel behavior, thereby expressing a need to update profiles of factors associated with mode choice. To respond to this research gap in part, this current study aims to model children’s mode decisions for school trips in the post-pandemic time in Hanoi. As regards mode usage, cycling is the main mode of active transport with a share at 23.3%, doubling the rate of 11% for walking. The dominant mode of traveling to school is the motorized modes (i.e., cars and motorcycles) with a proportion of 60%, meanwhile, school buses account for only 6.2%. As regards the determinants, when growing up, children tend to shift from being driven to traveling actively. The availability of cars increases the likelihood of using other modes compared to cycling. An opposite association is seen for the availability of bicycles. The flexibility in terms of a mother’s job is involved in a higher possibility of being driven for a child. A home-school distance less than 1 km is more suitable for walking compared to cycling; however, an inverse relationship is witnessed for a distance between 1 and 2 km. A distance over 2 km is more appropriate for motorized modes and school buses. To promote active transport to school, children’s travel demand should be taken transport planning into consideration. Developing cycling and walking facilities is essential, especially in urban districts. Additionally, limiting the use of private motorized modes would be useful.
, Anh Lai Van
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 811-823; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.7.4

Abstract:
Shear connector (typically shear studs) plays a vital role as a transfer zone between steel and concrete in steel-concrete composite bridge girder. In the previous studies, the connection between steel beam and reinforced concrete slab were considered as continuous joint. However, in practice, this connection is discrete, which allows the slipping and peeling phenomenon between two layers (the influence of peeling is usually very small and could be ignored). To reflect this actual working mechanism, this study proposed a model of shear connection in the form of discrete points at the actual positions of studs for structural analysis. The model was simulated utilizing Timoshenko beam theory considering transverse shear effects. The numerical applications are carried out in order to compare two types of connections. The obtained results indicated that the proposed model properly reflected the actual performance of the structure and in some necessary cases, we should consider discrete connection for more accurate local results.
Dung Chu Tien
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 800-810; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.7.3

Abstract:
Red-light running (RLR) is the most significant factor involved in traffic crashes and injuries at signalized intersections. In Vietnam, little knowledge of factors affecting RLR has been found. This paper applied an ordered probit model to investigate factors associated with RLR using questionnaire data collected in Hanoi. Generally, this paper found that males and motorcyclists have a higher likelihood of RLR than females and car drivers. In addition, the younger and lower-income road users and the ones who are businessmen and who have a commuting trip in off-peak hours are more likely to run the red light. By contrast, the road users who go to school and the people who understand traffic law are less likely to violate the red light. In the future, it is necessary to collect data in different cities to generalize the results. In addition, may need to apply a more powerful method such as the latent class model, which can discover hidden facts among respondents. In the new model, other factors such as weather, waiting time, and countdown signal will be considered to investigate their effects on RLR.
Hung Vu Viet, Cuong Nguyen Tuan, Duy Nguyen Huu, Tho Ngo Nguyen Ngoc,
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 824-840; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.7.5

Abstract:
Recently, high-performance fiber-reinforced mortar/concrete (HPFRM) has been researched and developed in many fields such as repair, maintenance, and new construction of infrastructure works due to its high strain capacity and tight crack width characteristics. Optimizing the design of mixture proportions and structures using HPFRM is still a complex mechanical and physical process, depending on the design principles, specific site conditions, and their local materials. This study aims to develop an HPFRM with low polypropylene fiber content by using locally available ingredients in Southern Vietnam to address the deficiencies commonly observed in traditional cement grout mortars. Three mixture proportions were prepared with different water-to-binder (w/b) ratios of 0.2, 0.25, and 0.3. Then, the performance of HPFRM was evaluated in both fresh and hardened stages. Additionally, the microstructural characteristics of each mix design were also assessed through scanning electron microscope observation. The experimental results showed that the optimum w/b of 0.25 and a fixed dosage of 0.6% polypropylene fiber produced positive impacts on the rheological, mechanical properties, and also ductility of the high-performance mortar. It was concluded that HPFRMs are promising for cost-effective and sustainable cement mortars.
Dũng Nguyễn Đức, Tiến Nguyễn Duy, Chiến Thái Khắc
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 687-701; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.6.2

Abstract:
Đồng bằng sông Cửu Long đang trong giai đoạn xây dựng cơ sử hạ tầng với hàng loạt các công trình giao thông lớn đã và đang được triển khai như cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận, cao tốc Bến Lức – Long Thành, cầu Bình Khánh, cầu Thủ Thiêm 2. Trong khi đó nguồn cát vàng hạt lớn để chế tạo bê tông xi măng ngày càng trở lên khan hiếm. Để đáp ứng nhu cầu xây dựng các dự án đã tiến hành phối trộn cát mịn (CM) với cát nghiền thô còn gọi là đá mi (ĐX) để tạo ra cát hỗn hợp để dùng như một giải pháp thay thế. Nội dung bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu các tính chất cơ học của bê tông sử dụng cát hỗn hợp với cấp cường độ C40 phù hợp để áp dụng cho xây dựng cầu, đồng thời cũng xây dựng các phương trình quan hệ giữa các đặc trưng cơ học của bê tông với các tính chất của vật liệu cát hỗn hợp nhằm đưa ra các đề xuất phục vụ công tác thiết kế và thi công cầu với loại vật liệu đặc trưng này.
, Hoan Lai Thi
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 789-799; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.7.2

Abstract:
In recent years, the conducting polymers have attracted much attention in research and development because of their applications in medical and civil engineering. Here, the salicylate doped polypyrrole films were prepared on the carbon steel surface and their corrosion protection in 3 % NaCl solution were studied. Polypyrrole (Ppy) film was electrochemically synthesised with constant current techniques in a sodium salicylate solution (0.05M, 0.1M, 0.15M) and 0.1M pyrrole monomer on mild CT3 steel electrode passivated by molybdate. The morphological, structural, composition and thermal properties of salicylate doped Ppy films were characterized by scanning electron microscopy (SEM), Fourier transform infrared (FTIR) spectroscopy, and thermogravimetric analysis (TGA) techniques. The anti-corrosion ability of these films was assessed by electrochemical measurements in 3 % NaCl solution. The obtained results suggested that salicylate anions contributed in corrosion protection ability of Ppy films for mild steel electrode. The concentration of sodium salicylate of 0.1M and pyrrole of 0.1M is most suitable for preparation of good protection coating. The self-healing mechanism has been also mentioned for salicylate doped Ppy films on CT3 steel substrate.
Tiệp Phạm Đức, Hưng Trần Nam, Lê Nguyễn Thành
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 713-721; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.6.4

Abstract:
Khi cần tính toán độ lún của công trình theo thời gian, phải tiến hành xử lý số liệu thí nghiệm nén cố kết để cung cấp các tham số đặc trưng của mẫu đất. Bài báo này thiết lập mô hình hồi quy phi tuyến đơn biến để dự báo độ lún của mẫu đất theo thời gian khi tiến hành thí nghiệm nén cố kết. Các hệ số cần tìm của hàm hồi quy bao gồm mô đun đàn hồi Es, hệ số cố kết Cv và chỉ số nén thứ cấp Cα đều đặc trưng cho đất ứng với 3 giai đoạn lún khác nhau là lún tức thời, lún cố kết sơ cấp và lún cố kết thứ cấp. Phân tích hồi quy phi tuyến được thực hiện trên cơ sở bộ số liệu thí nghiệm cố kết ứng với một tải trọng nhất định. Kết quả chỉ ra rằng, mô hình hồi quy phi tuyến dự báo độ lún của mẫu đất sát với kết quả thực nghiệm, và do đó có thể được sử dụng để cung cấp các tham số nén lún phục vụ tính toán độ lún trong thực tế.
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 753-762; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.6.7

Abstract:
Việc sử dụng năng lượng nổ trong thi công công trình ngầm và khai thác mỏ đang được ứng dụng rộng rãi và sử dụng hiệu quả trong giai đoạn hiện nay. Bài báo này nghiên cứu ảnh hưởng của chiều sâu chôn thuốc nổ đến kích thước vùng phá hủy văng vật liệu rắn khi nổ lượng nổ tập trung, làm rõ mối liên hệ giữa tác dụng của nổ văng phụ thuộc vào chiều sâu chôn thuốc một cách toàn diện hơn. Từ việc nghiên cứu phân tích lý thuyết nổ trong môi trường rắn bằng lượng nổ tập trung, kết hợp với việc tiến hành thí nghiệm nổ trên mô hình thu nhỏ vật liệu rắn là hỗn hợp vữa xi măng – cát đựng trong 1 chiếc bể kích thước 4,5x4,5x0,5m, bài báo đã thiết lập được hàm qui luật thực nghiệm về sự phụ thuộc bán kính phễu văng vào chiều sâu chôn thuốc, sự phụ thuộc về chiều sâu trông thấy phễu văng vào chiều sâu chôn thuốc nổ, tìm ra được chiều sâu chôn thuốc tối ưu và khuyến cáo giải pháp nổ hiệu quả trong thực tiễn.
Tuấn Đỗ Đức, Toàn Nguyễn Đức
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 722-737; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.6.5

Abstract:
Quá trình tính toán sức kéo đoàn tàu trong ngành đường sắt bao gồm nhiều bài toán khác nhau, một trong số đó là tính toán hãm đoàn tàu. Do tính đa dạng của các loại đoàn tàu, nên khối lượng tính toán là khá lớn, chiếm nhiều thời gian nếu tiến hành bằng phương thức thủ công truyền thống. Vì vậy, trên cơ sở lý thuyết đã biết, bằng ngôn ngữ lập trình Java đã tiến hành xây dựng chương trình tính toán hãm đoàn tàu áp dụng cho ngành đường sắt Việt Nam. Chương trình cho phép tính toán khoảng cách hãm với các loại vật liệu guốc hãm có hệ số ma sát khác nhau giữa guốc hãm với bánh xe trên các loại đoàn tàu khác nhau. Trên cơ sở đó, có thể so sánh và đưa ra những lựa chọn hợp lý về việc sử dụng vật liệu guốc hãm với các biểu thức về hệ số ma sát guốc hãm tương ứng. Chương trình cũng cho phép tăng nhanh tốc độ, đảm bảo tính linh hoạt và thuận tiện trong quá trình tính toán với các phương án lập tàu khác nhau.
Lam Nguyễn Xuân, Anh Lê Bá, Thành Vũ Bá, Tiến Nguyễn Duy, Long Nguyễn Ngọc
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 738-752; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.6.6

Abstract:
Phân bố nhiệt độ trong kết cấu bê tông cốt thép (BTCT) ở tuổi sớm do ảnh hưởng của nhiệt thủy hóa xi măng là một vấn đề quan trọng cần phải được nghiên cứu, bởi hiện tượng này sinh ra ứng suất nhiệt và có ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ ứng suất-biến dạng của kết cấu BTCT. Ứng suất nhiệt này có giá trị tương đối lớn và là một trong những nguyên nhân gây ra vết nứt trong kết cấu bê tông ở giai đoạn thi công. Trong bài báo này, chúng tôi đưa ra một số vấn đề mới để phân tích nguyên nhân của sự hình thành và phân bố trường nhiệt độ trong kết cấu BTCT: (i) phương pháp đồng nhất hóa được áp dụng để xác định hệ số dẫn nhiệt tương đương và bề dày có hiệu của lớp vật liệu BTCT với các đường kính cốt thép, chiều dày bê tông bảo vệ và cấp bê tông điển hình; (ii) xây dựng chương trình tính toán dựa vào hệ số dẫn nhiệt tương đương đạt được của lớp BTCT và các phương trình truyền nhiệt để phân tích các trường nhiệt độ theo thời gian do thủy hóa xi măng trong một kết cấu trụ cầu thực tế.
Hiệp Vũ Văn, Tuấn Đỗ Đức
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 565-579; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.5.5

Abstract:
Số lượng đầu máy vận dụng kéo tàu trên chính tuyến trong ngành đường sắt được xác định trên cơ sở khối lượng vận chuyển hoặc khối lượng luân chuyển hành khách và hàng hóa, và có thể tiến hành bằng phương pháp biểu đồ hoặc phương pháp giải tích. Trong phương pháp giải tích, số lượng đầu máy vận dụng có thể được tính theo quãng đường chạy trung bình ngày đêm, theo sản lượng trung bình ngày đêm và hệ số quay vòng của đầu máy. Nội dung bài báo trình bày quá trình xây dựng chương trình tính toán xác định số lượng đầu máy vận dụng theo hệ số quay vòng đầu máy, từ đó áp dụng cho việc tính toán xác định số lượng đầu máy vận dụng trên tuyến Hà Nội -Sài Gòn theo số liệu dự báo về khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hóa đến năm 2030. Chương trình cho phép rút ngắn thời gian, đảm bảo tính linh hoạt và thuận tiện trong quá trình tính toán với các phương án khác nhau.
, Tung Nguyen Hoang
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 423-436; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.4.3

Abstract:
The process of determining the working parameters of reverse bucket excavators is mainly consulted through the Ministry of Construction norm. However, in the era of industrialization and modernization, machine and equipment are increasingly modern and innovative, making the determination of excavator productivity or parameters through the regulations in the old norms unsuitable. Furthermore, updating the norms through data collected in the field take tremendous amount of time and procedures as it is labor intensive. Therefore, this paper proposes a vision-based analysis in calculating excavator productivity using image processing applications and coding language to automatically determine the excavator productivity and bring results on the basis of analysing big data collected from validated construction sites. To be specific, this paper introduces a new method in calculating the excavator productivity by extracting crucial coefficients from hundred images of the excavators using an open-source software, then compare with the traditional method to identify and analyse the importance of this new method and the practical use it might bring to the construction industry.
Khanh Can Xuan, Ba Le Xuan, An Nguyen Truong, Hung Trinh Quang,
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 395-410; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.4.1

Abstract:
Boosting machining quality is a prominent solution to save production costs for burnishing operations. In this work, a machining condition-based optimization has been performed to decrease surface roughness (SR) and enhance Vickers hardness (VH) of the minimum quantity lubrication-assisted burnishing operation (MQLABO). The burnishing factors are the spindle speed (S), depth of penetration (D), and the air pressure (P). The burnishing trails of the hardened material labeled 40X have been conducted on a milling machine. The adaptive neuro-based-fuzzy inference system (ANFIS) was used to construct the correlations between the process inputs and MQLABO responses. The non-dominated sorting genetic algorithm-II (NSGA-II) is utilized to determine the optimal parameters. The scientific outcomes revealed that the optimal values of the S, D, and P are 800 RPM, 0.09 mm, and 4.0 Bar, respectively. The SR is decreased by 53.8%, while the VH is enhanced by 3.1%, respectively, as coBarred to the initial values.
, Khang Lam Tri, Binh Pham Trong, Phuong Phan Huy
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 468-476; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.4.6

Abstract:
Due to the large disposal of locally industrial wastes and the shortage of natural resources, turning industrial by-products into green artificial materials has been attracting many researchers in the world. Following this trend, this study evaluated the potential application of self-produced artificial sand (AS) in the production of green mortar. The AS was produced by the alkali-activated method using a mixture of 36.4% fly ash, 36.4% slag, 3.5% 10M NaOH solution, 11% Na2SiO3 solution, and 12.7% water. The mortar mixtures were designed based on the densified mixture design algorithm with the incorporation of the AS as the substitution of natural sand (NS) by 0 – 100 wt.% (interval of 20%). The engineering properties of the mortar samples in both fresh and hardened states were evaluated through the tests of workability, compressive strength (CS), water absorption (WA), and shrinkage/ expansion. The experimental results showed that the mortar sample incorporating 20% of AS to replace NS performed superior engineering properties in comparison to other samples. Further increasing the AS content generally caused a negative impact on the mortar’s performance. Increasing AS content beyond 20% systematically decreased the CS while both WA and expansion were increased noticeably. However, the properties of the green mortar produced for this study satisfied all of the requirements of the official Vietnamese standards. Thus, the research results further confirmed a great potential in producing green mortar using AS to either partially or fully replacement of NS. In addition, the use of AS greatly contributes to not only saving natural resources but also limiting the negative effects on the environment due to the exploitation and use of naturally sourced materials.
Chi Dang Thuy
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 477-485; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.4.7

Abstract:
Cement-based grouts are widely used thanks to its outstanding features such as high workability, non-separation, non-bleeding, easy to fulfill small gaps with complex shapes. This paper descrcibes the first phase of a series of laboratory experiments that examined the ability of production of self - levelling mortar at the University of Transport and Communications. The Portland cement-based grout incorporated superplasticizer, fly ash, fine aggregate, water along with expansion agent to match as closed as possible the given high strength non-shrink grout. The experimental study focused on the performance of non-shrink grouts regarding the flowability, expansion and bleeding, strengths and drying shrinkage of the test grout mixtures. The high range water reducer (HRWR) at dosage of 1% by weight of cement was used as a flowability modifying chemical admixture to prevent water segregation and leads to an increase in compressive strength. The parameter tests consist of water-cement ratios, and fixed dosages of superplasticizer and expansive agent. To examine the flowability of grout mortars, the flow cone test was applied. The flow cone test result indicated that there were three proportional of grouts that can meet the requirement of fluidity. The compressive strength of specimens was tested according to ASTM C349-14. It was concluded that the compositions of grouts at a water-cement ratio of from 0.29 to 0.33 have compressive strengths greater than 60 MPa. The tested specimens using the expansive agent with the dosage recommended by the manufacturer meet the non-shrinkage requirement of a grout. The experimental results have demonstrated the ability of production of high strength non-shrink grouts.
Tuấn Vũ Minh, Hậu Lương Phương, Thanh Nguyễn Viết, Tâm Hồ Sỹ
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 605-619; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.5.8

Abstract:
Tombolo Tam Hải có ba mặt giáp biển và một mặt giáp sông Trường Giang, cũng là nơi hiện tượng xói lở và bồi tụ bờ biển diễn biến rất phức tạp. Trong nghiên cứu này, sự kết hợp của kỹ thuật viễn thám, hệ thống thông tin địa lý (GIS) cùng với Hệ thống phân tích đường bờ kỹ thuật số (DSAS) và phương pháp hồi quy tuyến tính đã được áp dụng để trích xuất và đánh giá những thay đổi đường bờ trong quá khứ từ năm 1975 đến năm 2019 cũng như dự đoán vị trí của đường bờ trong tương lai (2030 và 2050) của Tombolo Tam Hải. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra một bức tranh tổng thể rõ hơn về các vị trí cũng như tốc độ xói lở/bồi tụ tại khu vực trong quá khứ cũng như tương lai. Trong giai đoạn 1975-2019, quá trình xói lở và bồi tụ đan xen nhau. Hiện tượng xói lở vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối ở bờ biển Bắc với tốc độ xói lở lên đến -18,51 m/năm, trong khi đó, bờ biển Nam được bồi tụ phần lớn với tốc độ bồi tụ khoảng +1,1 m/năm. Tuy nhiên, trong giai đoạn tương lai 2019-2050, cả hai khu vực bờ biển Bắc và Nam của Tombolo Tam Hải được dự đoán trải qua hiện tượng xói lở. Đánh giá biến động đường bờ bằng ảnh viễn thám đa thời gian cung cấp một công cụ nhanh chóng và chính xác trong công tác quản lý và bảo vệ bờ biển.
Tân Đặng Minh, Hợi Trần Danh
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 580-590; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.5.6

Abstract:
Bài báo trình bày nghiên cứu về quy luật xe đến, cụ thể là thời gian xe đến thực tế trên một số tuyến đường đô thị ở Hà Nội. Thời gian xe đến là thông số quan trọng để mô tả dòng giao thông, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dòng giao thông, đến các thông số như là thời gian chờ, chiều dài dòng chờ trên mạng lưới giao thông đường bộ. Quy luật thời gian xe đến dùng để giải quyết các bài toán tổ chức giao thông cho các phương tiện khi đi qua nút giao thông, trạm thu phí, hay điểm tách, nhập vào đường cao tốc... Nghiên cứu đã đề xuất một phương pháp xác định thời gian xe đến thực tế cho dòng xe hỗn hợp chạy không theo làn với dòng giao thông ở Việt Nam. Từ đó, tiến hành khảo sát thu thập dữ liệu về yếu tố hình học và các dữ liệu khác như lưu lượng, thành phần xe chạy, thời gian xe đến thực tế trên ba đoạn đường trong đô thị ở Hà Nội. Bước đầu nghiên cứu tập trung vào phân tích quy luật dòng xe ở giờ thấp điểm. Mỗi một đoạn đường chọn khoảng thời gian 1 giờ để phân tích. Kết quả cho thấy thời gian xe đến của dòng xe hỗn hợp tuân theo quy luật phân phối Loga chuẩn ba tham số và phụ thuộc vào lưu lượng xe.
Tuấn Nguyễn Sỹ Anh
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 646-659; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.5.11

Abstract:
Việc nghiên cứu tính chính quy hay độ trơn của nghiệm của phương trình đạo hàm riêng trong lớp hàm suy rộng đã kích thích một hướng Toán học quan trọng phát triển. Bài viết này trình bày biến đổi Fourier trong không gian Schwartz và không gian các hàm suy rộng để nghiên cứu nghiệm suy rộng, nghiệm yếu, nghiệm cơ bản của phương trình đạo hàm riêng đã và đang được nhiều nhà toán học quan tâm. Phần 2 đưa vào các ký hiệu hình học và các không gian hàm cần thiết để người đọc dễ theo dõi các phần tiếp theo. Biến đổi Fourier trong không gian Schwartz được đưa vào ở phần 3. Phần 4 dành cho việc trình bày biến đổi Fourier hàm suy rộng. Các bài toán về nghiệm suy rộng, nghiệm yếu và nghiệm cơ bản của phương trình đạo hàm riêng được trình bày ở phần 5. Kết quả của nghiên cứu cho thấy phương trình đạo hàm riêng đóng vai trò là chiếc cầu nối giữa toán học và ứng dụng, thúc đẩy sự phát triển các ý tưởng toán học trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Đạt Trần Quốc, Minh Nguyễn Thanh, Dương Trọng Kiến
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 660-671; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.5.12

Abstract:
Hiện nay việc ứng dụng chất kết dính vô cơ trong gia cố đất đã được sử dụng phổ biến trong xây dựng giao thông ở Việt Nam, vật liệu Polyme cũng được sử dụng trong xây dựng dân dụng và sản xuất vật liệu xây dựng. Việc sử dụng các phụ gia polyme dùng trong đất gia cố xi măng cũng bước đầu được nghiên cứu và ứng dụng thí điểm trên một số công trình đường giao thông nông thôn. Tuy vậy, việc ứng dụng phụ gia polyme trong gia cố nền đường sắt, với những đặc trưng của nó về điều kiện làm việc và tải trọng, hiện còn rất mới mẻ và chưa được nghiên cứu tại Việt Nam. Bài báo giới thiệu những kết quả nghiên cứu bước đầu về việc sử dụng phụ gia polyme trong gia cố nền đường sắt bằng xi măng trên đoạn tuyến Hà Nội – Đồng Đăng, đây là đoạn tuyến xuất hiện nhiều vị trí nền đường bị phá hoại do đất có độ trương nở lớn, sức chịu tải kém. Trên cơ sở các nghiên cứu thực nghiệm trong phòng đối với mẫu đất đắp nền đường trên tuyến để đánh giá ảnh hưởng của phụ gia polyme trong việc cải thiện các chỉ tiêu cơ lý liên quan đến sức chịu tải cho nền đường sắt, từ đó đề xuất lựa chọn hàm lượng xi măng và phụ gia polyme phù hợp để nâng cao sức chịu tải cho nền đường khu vực nghiên cứu đạt được các tiêu chuẩn kỹ thuật quy định.
Nghi Vũ Văn, Khôi Phạm Văn
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 525-535; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.5.2

Abstract:
Sóng Stem là sóng được hình thành và phát triển dọc theo các công trình tường đứng do sự tương tác giữa sóng tới và sóng phản xạ khi sóng tới xiên góc với công trình và có thể gây nguy hiểm cho tàu bè cũng như công trình. Hơn nữa, sóng Stem có thể làm tăng lượng sóng tràn qua đê trong điều kiện thời tiết cực trị. Do đó, sóng Stem cần được lưu ý khi thiết kế đê tường đứng. Bài báo này sử dụng phương trình Boussinesq mở rộng cho sóng truyền trong môi trường rỗng để nghiên cứu về sự phát triển của sóng Stem phía trước đê tường đứng vách kín và đê tường đứng kết cấu rỗng. Các kết quả mô phỏng sóng Stem trong nghiên cứu này cho thấy sự phù hợp với các kết quả của mô hình SWASH và số liệu thí nghiệm từ mô hình vật lý. Đối với trường hợp đê tường đứng vách kín, sóng Stem đặc biệt thấy rõ khi góc sóng tới lớn và độ phi tuyến của sóng cao. Khi mô phỏng sóng tới đê tường đứng kết cấu rỗng, sóng Stem vẫn xuất hiện phía trước đê dù chiều cao sóng giảm đi do năng lượng sóng bị hấp thụ một phần qua đê rỗng. Kết quả của bài báo có thể được sử dụng trong các nghiên cứu về bồi xói phía trước đê tường đứng kết cấu rỗng.
Khôi Trần Văn, Anh An Thị Hoài Thu, Phúc Đặng Việt
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 536-551; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.5.3

Abstract:
Thu hồi năng lượng dư thừa trên lưới tiếp xúc trả về lưới trung áp là một trong các biện pháp hiệu quả thu hồi năng lượng tái sinh trong quá trình hãm, xuống dốc của các đoàn tàu trong quá trình vận hành. Để đạt được hiệu quả thu hồi lớn nhất, bên cạnh chế độ điều khiển thì vị trí và dung lượng các bộ nghịch lưu đóng vai trò rất quan trọng. Bài báo này trình bày một phương pháp xác định vị trí tối ưu và dung lượng của các bộ nghịch lưu trong hệ thống cung cấp điện kéo cho các tuyến đường sắt đô thị. Mục tiêu là tìm được phương án bố trí nghịch lưu để tối thiểu hóa tổng chi phí tiêu thụ điện năng và chi phí đầu tư các bộ nghịch lưu, từ đó mang lại lợi ích kinh tế lớn nhất. Phương pháp đề xuất được thực hiện trong hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất áp dụng thuật toán trào lưu công suất để xác định mức năng lượng tiêu thụ và năng lượng thu hồi tại mỗi trạm điện kéo tương ứng với các trường hợp bố trí nghịch lưu trong các chế độ vận hành. Giai đoạn hai tìm kiếm vị trí và dung lượng các bộ nghịch lưu để tổng chi phí là tối thiểu. Thuật toán đề xuất được kiểm nghiệm trên một mô hình hệ thống cung cấp điện xây dựng theo số liệu tham khảo từ tuyến đường sắt Cát Linh – Hà Đông. Kết quả mô phỏng cho trường hợp vận hành 11 đoàn tàu, thời gian từ 5h đến 22h hàng ngày trong 10 năm thì chi phí khi có trang bị nghịch lưu là 252,98 tỷ so với 340,6 tỷ khi không dùng nghịch lưu. Kết quả mô phỏng cho thấy hệ thống ví dụ được tối ưu hóa và khả năng tiết kiệm năng lượng của nó là đáng chú ý.
Quý Đỗ Xuân, Nga Vũ Thị
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 552-564; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.5.4

Abstract:
Dầm trên nền đàn hồi là kết cấu phổ biến trong xây dựng công trình nói chung, công trình giao thông nói riêng, các kết cấu có thể kể đến như: Dầm móng đặt trên nền đàn hồi, hệ phao nổi trên mặt nước, hệ cọc trong đất, tà vẹt trên nền đá ba lát,… Các mô hình tính áp dụng trong thiết kế hiện nay giả thiết rằng dầm luôn luôn tiếp xúc với nền. Trong khi đó, nhiều trường hợp có một bộ phận của dầm không tiếp xúc với nền nên việc mô hình như trên là không phù hợp. Theo đó, các kết luận, khuyến cáo trong công tác tư vấn không sát với thực tế làm việc của dầm. Trong nghiên cứu này, tác giả công bố một loại phần tử mới có tên là dầm-nền dị hướng. Mỗi phần tử dầm-nền dị hướng là mô hình hóa của một phần tử dầm và nền trong phạm vi của nó. Phần tử này cho phép phân tích dầm trên nền đàn hồi có kể đến sự tiếp xúc và không tiếp xúc giữa dầm và nền bằng phương pháp phần tử hữu hạn. Ứng xử của phần tử dầm và nền trong phạm vi của nó được mô tả bằng các biểu thức toán học rõ ràng khiến cho việc phân tích dầm trên nền đàn hồi với loại phần tử này sẽ hội tụ nhanh hơn so với các phương pháp khác.
Nguyen Thuy Anh, Ly Hai Bang
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 411-422; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.4.2

Abstract:
A Gaussian process regression (GPR) model for predicting the bond strength of FRP-to-concrete is proposed in this study. Published single-lap shear test specimens are used to predict the bond strength of externally bonded FRP systems adhered to concrete prisms. A database of 150 experimental results collected from published works is used for the training and testing phases of the proposed GPR model, containing 6 input parameters (width of concrete prism, concrete compressive strength, FRP thickness, FRP width, FRP length, and FRP modulus of elasticity). The output parameter of the prediction problem is bond strength. Three statistical indicators, namely the coefficient of determination, root mean square error (RMSE), and mean absolute error (MAE) are used to evaluate the performance of the proposed GPR model over 500 simulations. The results of this study indicate that the GPR provides an efficient alternative method for predicting the bond strength of FRP-to-concrete when compared to experimental results.
Dung Pham Xuan, Giang Hoang Huong,
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 437-451; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.4.4

Abstract:
Studying on transportation e-marketplaces (TEMs) has today received much concern because developing TEMs helps enterprises and their customers reduce operation costs and improve supply chain efficiency. This study evaluates the adoption of TEMs in Vietnam based on the demand side’s perspective, including the viewpoint of shippers and the Transport Service Providers (TSPs). While shippers and TSPs around the world are facing various issues related to transportation and logistics process in the competitive market, TEMs is a potential solution which can offer response to those challenges such as transaction cost reduction, better transport capability, inefficiency diminishment, … In Vietnam, TEMs is still a new concept with the limitation of usage, so that the number of researches on this topic is scarce. This study followed the quantitative research method via SPSS technique of data analysis to provide a brief view of TEMs adoption in Vietnam. These insights can make contribution to both research and practice in the future.
Ninh Vu Thi An
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 452-467; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.4.5

Abstract:
Investigation on the influence of beam theory and partial foundation support on natural frequencies play an important role in design of structures. In this paper, fundamental frequencies of a bidirectional functionally graded sandwich (BFGSW) beam partially supported by an elastic foundation are evaluated using various beam theories. The core of the sandwich beam is homogeneous while its two face sheets are made from three distinct materials with material properties varying in both the length and thickness directions by power gradation laws. The finite element method is employed to derive equation of motion and to compute the frequencies of the beam. The effects of the material gradation, the foundation parameters and the span to height ratio on the frequencies are studied in detail and highlighted. The difference of the frequencies obtained by different beam theories is also examined and discussed. The numerical results of the paper are useful in designing BFGSW beams with desired fundamantal frequencies.
Page of 4
Articles per Page
by
Show export options
  Select all
Back to Top Top