Refine Search

New Search

Results: 152

(searched for: publisher_group_id:22359)
Save to Scifeed
Page of 4
Articles per Page
by
Show export options
  Select all
Chiến Thái Khắc
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 243-252; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.3.3

Abstract:
Nano silic được sử dụng trong bê tông nhằm cải thiện đặc trưng cơ lý và độ bền của bê tông thường cũng như bê tông tính năng cao. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của nano silic đến diễn biến cường độ chịu nén, cường độ chịu ép chẻ và mô đun đàn tại tuổi 1, 3 và 7 ngày tuổi của bê tông tính năng cao có cường độ nén đặc trưng là 70MPa. Hàm lượng nano silic được lựa chọn là 1,2%; 2,0% và 2,8% nhằm thay thế xi măng trong cấp phối đối chứng. Tác dụng của nano silic ở tuổi sớm của nano silic được đánh giá thông qua hai tiêu chí: một là giá trị đặc tính cơ học ở tuổi sớm của mẫu có chứa nano so với mẫu không chứa nano và hai là giá trị đặc tính cơ học ở tuổi sớm so với giá trị ở tuổi 28 ngày. Kết quả nghiên cứu cho thấy nano silic cải thiện đáng kể tiêu chí thứ nhất nhưng cải thiện không đáng kể tiêu chí thứ hai. Mức độ cải thiện rõ nhất ứng với hàm lượng nano silic là 2% so với mẫu đối chứng tại 1 ngày và 3 ngày của của cường độ ép chẻ, cường độ nén và mô đun đàn hồi.
Cường Nguyễn Huy, Tài Đinh Hữu, Cảnh Lê Minh
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 111-126; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.2.2

Abstract:
Ăn mòn cốt thép trong bê tông là một trong những nguyên nhân chính gây ra hư hỏng và suy thoái cho kết cấu bê tông cốt thép. Bê tông cốt lưới dệt (TRC) là một công nghệ mới trong việc sửa chữa và tăng cường kết cấu bê tông, bao gồm cả tăng cường sức kháng uốn, sức kháng cắt và sức kháng nén. Bài báo này trình bày một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm để xác định ứng xử chịu cắt của dầm bê tông có cốt thép đai bị ăn mòn được tăng cường bằng bê tông cốt lưới dệt (TRC). Sức kháng cắt của các dầm BTCT bị ăn mòn và của lớp TRC với hàm lượng cốt lưới dệt thay đổi sẽ được đánh giá chi tiết. Trong nghiên cứu này, có 18 dầm được thí nghiệm, trong đó có 12 dầm được gia tốc quá trình ăn mòn điện hóa trong thời gian 60 và 90 ngày để đạt được mức độ mất mát khối lượng lý thuyết 10% và 20% với cốt thép đai. Quá trình điện hóa được thực hiện đối với cốt thép đai trong đoạn chiều dài chịu cắt của dầm thí nghiệm. Các dầm đối chứng được thí nghiệm uốn ba điểm để xác định sức kháng cắt. Tám dầm BTCT bị ăn mòn được tăng cường với 2 và 3 lớp lưới sợi các bon, có cấu trúc dạng chữ U. Mục tiêu nghiên cứu của chương trình thí nghiệm này là xác định ứng xử chịu cắt của các dầm được tăng cường, bao gồm quan hệ lực – độ võng, cấu trúc vết nứt, sức kháng cắt và các dạng phá hoại. Kết quả thí nghiệm cho thấy, đối với các dầm bị ăn mòn mạnh, sức kháng cắt của các dầm được tăng cường bằng 2 và 3 lớp lưới sợi đã tăng lên 42,5% và 60,6%.
Toán Trịnh Đình
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 215-230; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.3.1

Abstract:
Rủi ro kỹ thuật là một dạng rủi ro phổ biến nhất trong các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông. Do vậy, chúng cần được nhận dạng và phân loại sớm nhằm hỗ trợ việc ra quyết định đầu tư trong giai đoạn lập dự án. Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu việc nhận dạng các rủi ro kỹ thuật điển hình trong các dự án đường bộ sử dụng cấu trúc các hạng mục công việc xây lắp, và phân loại các rủi ro theo cấp rủi ro, áp dụng nhận dạng và phân loại các rủi ro kỹ thuật của dự án đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nhận dạng rủi ro sử dụng cấu trúc các hạng mục công việc cho phép rà soát một cách toàn diện và hệ thống các rủi ro kỹ thuật của dự án, và việc phân loại rủi ro theo cấp độ cho phép sắp xếp các rủi ro một cách có cấu trúc, tường minh, giảm thiểu sự chồng chéo hay bỏ sót rủi ro, đặc biệt thích hợp cho những dự án lớn.
Sử Trần Đắc
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 168-175; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.2.6

Abstract:
Trong quá trình vận hành tuyến đường sắt, các điểm chi tiết trên đường cong chuyển tiếp có thể bị chuyển dịch bởi các nguyên nhân khác nhau. Để đảm bảo an toàn vận tải tuyến đường sắt, các điểm chi tiết trên đường cong chuyển tiếp hiện hữu cần được nâng cấp, cải tạo chuẩn hóa lại vị trí chính xác của chúng đến đường cong chuyển tiếp tối ưu. Bài báo nghiên cứu áp dụng lý thuyết của đường cong chuyển tiếp và lý thuyết sai số trong trắc địa để đưa ra phương pháp xác định đường cong chuyển tiếp tối ưu từ các điểm chi tiết trên đường cong chuyển tiếp hiện hữu. Trước tiên tọa độ các điểm chi tiết trên thực địa được đo bằng máy toàn đạc điện tử, sau đó xác định hệ số đường cong chuyển tiếp hiện hữu tại các điểm này và hệ số đường cong chuyển tiếp tối ưu. Trên cơ sở hệ số đường cong chuyển tiếp tối ưu xác định toạ độ và độ chuyển dịch các điểm chi tiết từ đường cong chuyển tiếp hiện hữu đến đường cong chuyển tiếp tối ưu theo trục x hoặc trục y của hệ tọa độ. Phương pháp đề xuất đã được kiểm chứng bằng số liệu đo thực tế. Kết quả chỉ ra rằng, phương pháp đề xuất phù hợp với công tác đo đạc trên thực địa, đảm bảo độ chính xác nâng cấp và cải tạo tuyến đường sắt.
Chi Đặng Thuỳ
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 277-287; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.3.6

Abstract:
Các nghiên cứu về bê tông geopolymer sử dụng cát biển trên thế giới mới được phát triển khoảng 10 năm trở lại đây. Ở nước ta, các nghiên cứu về bê tông geopolymer sử dụng cát mặn và nước biển hiện còn khá sơ khai, chưa đánh giá hết tiềm năng của việc ứng dụng loại vật liệu này trong xây dựng hạ tầng ven biển. Nghiên cứu này sử dụng cát và nước mặn lấy từ vùng biển Cồn Vành, Thái Bình nhằm bước đầu đánh giá khả năng chế tạo bê tông geopolymer chịu lực từ các nguồn vật liệu nhiễm mặn không qua xử lý. Mười hai cấp phối geopolymer sử dụng cát biển, nước biển hoặc cát sông và nước ngọt đã được chế tạo. Cường độ chịu kéo khi uốn và cường độ chịu nén của các mẫu kích thước 40x40x160 cm tuổi 3, 7 và 28 ngày đã được xác định theo TCVN 3121-2003. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian bảo dưỡng của bê tông geopolymer có thể rút ngắn hơn so với bê tông xi măng thông thường, tạo điều kiện để rút ngắn tiến độ xây dựng công trình. Cấp phối geopolymer sử dụng cát biển đạt cường độ tốt, tương tự như các mẫu sử dụng cát sông và nước ngọt. Như vậy có thể thay thế một phần cát vàng trong việc chế tạo bê tông chịu lực bằng cát biển, góp phần sử dụng hiệu quả nguồn cát phong phú và giảm khai thác lượng cát vàng đang ngày càng cạn kiệt.
Liêm Nguyễn Duy, Dinh Đào Văn, Trị Nguyễn Nhật Minh
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 202-214; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.2.9

Abstract:
Việc sử dụng các loại sợi polyme đặc biệt là sợi polyme tái chế làm vật liệu gia cố bê tông đã nhận được sự quan tâm của cộng đồng nghiên cứu trong thời gian gần đây do chúng có độ bền kéo và khả năng chống ăn mòn tốt. Trong nghiên cứu này, hiệu quả của sợi polyethylene tái chế (R-PE) từ lưới đánh cá phế thải trong việc gia cố vật liệu bê tông đã được phân tích. Ba tỷ lệ sợi được lựa chọn là 1 %, 2 %, 3 % so với thể tích của bê tông. Từ kết quả của các thí nghiệm cường độ, sự giảm cường độ chịu nén và tăng độ dai, tăng cường độ chịu kéo của bê tông gia cố sợi được quan sát, tương ứng với việc tăng hàm lượng sợi. Dựa vào các kết quả này, cùng với phân tích chỉ số độ dẻo, cho thấy việc thêm sợi R-PE vào bê tông đã cải thiện khả năng chống nứt, ứng xử sau nứt và chuyển chế độ phá hoại của vật liệu này từ giòn sang bán giòn. Kết quả từ phân tích chuẩn hóa cho thấy hàm lượng sợi tối ưu về mặt cường độ là 1 %. Tuy nhiên, các tỷ lệ sợi từ 1 % đến 2 % được đề xuất để áp dụng tùy vào điều kiện thực tế của kết cấu. Tóm lại, kết quả từ nghiên cứu này bước đầu cho thấy tính khả thi của việc sử dụng sợi tái chế từ lưới đánh cá cho vật liệu bê tông. Tận dụng được loại vật liệu dễ tái chế cũng như khó phân hủy này sẽ mang lại những lợi ích thiết thực về mặt kinh tế cũng như môi trường.
Toàn Nguyễn Đức, Thắng Phạm Xuân, Tuấn Đỗ Đức
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 327-343; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.3.10

Abstract:
Các thiết bị công nghệ phòng vệ đường ngang trong ngành đường sắt Việt Nam hiện nay sử dụng “Bộ đếm trục xe” được xử lý dữ liệu trên cơ sở PLC, mặc dù chính xác, nhưng cồng kềnh, ít chức năng và không cập nhật được các tính năng hiện đại như: kiểm tra tình trạng hoạt động của chính nó và các thiết bị kết nối liên quan, không có chức năng cảnh báo cho người quản lý, vận hành, lưu trữ dữ liệu theo thời gian thực v.v. Vì vậy, cần nghiên cứu thay thế các công nghệ hiện hành bằng một công nghệ tiên tiến hơn, trong đó có việc sử dụng thiết bị nhận biết tàu hỏa bằng cảm biến radar chuyển động sản xuất trong nước với công nghệ vi xử lý hiện đại hơn, các tính năng mở rộng hơn, khả năng bảo mật cao hơn, gọn nhẹ và tiêu thụ ít năng lượng hơn. Với mong muốn ứng dụng công nghệ này vào thực tế, bài báo này trình bày kết quả thiết kế, chế tạo một số thiết bị chủ yếu của hệ thống thiết bị phòng vệ đường ngang cảnh báo tự động có chắn sử dụng radar phát hiện đoàn tàu.
Dũng Nguyễn Đức, Tiến Nguyễn Duy, Chiến Thái Khắc
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 100-110; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.2.1

Abstract:
Cát nghiền chứa một lượng lớn các hạt có kích thước nhỏ hơn 0,075mm gọi là bột đá. Hàm lượng bột đá trong cát nghiền có ảnh hưởng trực tiếp đến các tính chất cơ học của bê tông. Một lượng vừa đủ bột đá có tác dụng tích cực lấp đầy các lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu và các hạt xi măng làm cường độ của bê tông tăng lên, nhưng hàm lượng bột đá vượt quá giá trị giới hạn thì cường độ có xu hướng giảm. Do đó, việc xác định hàm lượng bột đá thích hợp trong các cấp phối bê tông có sử dụng cát nghiền là rất cần thiết. Trong nội dung bài báo này, chúng tôi trình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên các mẫu bê tông có sử dụng cát nghiền (CN) từ đá Andesite phối trộn với cát mịn (CM) khu vực đồng bằng sông Cửu Long theo tỉ lệ CN/CM=60/40 và hàm lượng bột đá thay đổi từ 2% đến 7%. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cấp phối bê tông có giá trị cường độ chịu nén, cường độ chịu kéo khi uốn, cường độ ép chẻ và mô đun đàn hồi lớn nhất khi hàm lượng bột đá trong cát nghiền là 3,5%.
Quân Huỳnh Văn
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 127-139; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.2.3

Abstract:
Các bể chứa chất lỏng (gas, xăng, dầu, axít, oxy hóa lỏng, …) là những công trình quan trọng thường đặt ở những vị trí trọng yếu ven biển, cửa sông hay trong khu công nghiệp. Việc thiết kế các công trình này đảm bảo khả năng chịu lực dưới mọi điều kiện tải trọng là hết sức cần thiết. Trong bài báo này, phổ phản ứng đàn hồi theo tiêu chuẩn TCVN 9386:2012 ứng với các đặc trưng phản ứng của hệ bể chứa-chất lỏng sẽ được xây dựng. Trên cơ sở phương pháp phân tích giản đơn theo tiêu chuẩn API 650 của Viện Dầu khí Hoa kỳ, phản ứng dưới dạng lực cắt, mô men tại đỉnh móng, đáy móng và chuyển vị thẳng đứng của mặt chất lỏng ứng với một trường hợp bể chứa cụ thể sẽ được thực hiện. Các kết quả được phân tích với các loại nền đất và sáu gia tốc nền cực đại tại Việt Nam. Kết quả của bài báo là tài liệu tham khảo hữu ích cho các kỹ sư vì tiêu chuẩn thiết kế bể chứa chất lỏng hiện hành trong nước chưa đề cập đến các nội dung này.
, Hải Hoàng Thị Minh
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 140-153; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.2.4

Abstract:
Trong công tác thiết kế cống dốc trên đường giao thông ở khu vực đồi núi nước ta, nhiệm vụ tính toán thủy lực cống ngoài việc xác định khẩu độ cống để đảm bảo thoát hết lưu lượng thiết kế của cống, vấn đề thiết kế cống để đảm bảo triệt tiêu một phần năng lượng dòng chảy trong cống để làm giảm áp lực cho công trình tiêu năng ở hạ lưu cống cần được đặt ra. Để làm giảm năng lượng dòng chảy trong thân cống dốc, hiện nay ở Việt Nam thường áp dụng hai giải pháp thiết kế cống: 1) Bố trí cống có hai độ dốc, đoạn thượng lưu có độ dốc lớn và đoạn hạ lưu có độ dốc nhỏ; 2) Bố trí cống dạng bậc nước. Ngoài hai giải pháp này, trên thế giới còn có giải pháp bố trí công trình tiêu năng hay mố nhám gia cường trên toàn thân cống hoặc ở cuối đoạn cuối cống. Trong bài báo này, tác giả trình bày chi tiết một số phương pháp tiêu năng trong thân cống dốc thường dùng. Từ đó phân tích các ưu điểm, nhược điểm của các phương pháp này. Đồng thời, tác giả trình bày các kết quả nghiên cứu mô hình vật lý về mố nhám gia cường trong thân cống dốc được thực hiện tại phòng thí nghiệm Thủy lực – Thủy văn, Trường đại học Giao thông vận tải.
Dũng Nguyễn Đức, Tiến Nguyễn Duy, Chiến Thái Khắc
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 268-276; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.3.5

Abstract:
Để khắc phục tình trạng thiếu cát tự nhiên hạt lớn trong các dự án giao thông ở khu vực bằng sông Cửu Long, cát hỗn hợp được chế tạo bằng cách phối trộn cát mịn với cát nghiền đang được sử dụng như một giải pháp thay thế. Cát nghiền và cát mịn có đặc tính khác với cát tự nhiên ví dụ hình dạng hạt, kết cấu bề mặt góc cạnh thô nhám và tính ma sát cao làm ảnh hưởng đến các tính chất vật lý của cát hỗn hợp cụ thể là làm tăng cấu trúc lỗ rỗng, tăng diện tích bề mặt, và tăng độ hấp thụ nước, các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến biến dạng co ngót của bê tông. Trong bài báo này tác giả trình bày các kết quả nghiên cứu biến dạng co ngót của bê tông có sử dụng cát hỗn hợp. Tỷ lệ cát nghiền/cát mịn được lựa chọn lần lượt là 50/50; 60/40; 70/30. Ba chế độ bảo dưỡng lần lượt là, theo tiêu chuẩn, bọc kín và không bảo dưỡng. Kết quả thí nghiệm cho thấy bê tông sử dụng cát hỗn hợp có giá trị co ngót khác cao hơn so với bê tông sử dụng cát tự nhiên và tỷ lệ cát nghiền/cát mịn tăng thì co ngót của bê tông tăng.
Thọ Đoàn Phước,
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 316-326; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.3.9

Abstract:
Băng thử được thiết kế và chế tạo xuất phát từ thực tế nghiên cứu về xe máy tại Việt Nam. Thành phần cấu tạo gồm hai con lăn đỡ và chịu tải trọng từ bánh xe truyền động của mô tô các chức năng bao gồm: đo tốc độ xe, xác định công suất động cơ, xác định lượng nhiên liệu tiêu thụ và suất tiêu hao nhiên liệu riêng có ích. Để xác định được các thông số yêu cầu thì băng thử có trang bị két đo chuẩn theo thể tích, cảm biến tốc độ bánh xe, bộ phận gây tải gồm máy phát một chiều và một phụ tải thuần trở có thể điều chỉnh công suất vô cấp. Các thông số này được kết xuất bằng phần mềm trên máy tính dưới dạng đồ thị và bảng biểu theo thời gian thực. Kích thước nhỏ gọn có thể di chuyển dễ dàng, các tính năng phù hợp trong nghiên cứu. Thực nghiệm cho thấy băng thử dễ dàng cài đặt và vận hành, kết quả thử nghiệm đạt yêu cầu. Kết quả nghiên cứu này góp phần đa dạng hóa nguồn cung cấp thiết bị thí nghiệm, đáp ứng các yêu cầu trong nghiên cứu về thử nghiệm động cơ xe máy, phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam
Quang Ngô Đăng, Cường Nguyễn Huy, Lộc Mai Đình, Tài Đinh Hữu, Cảnh Lê Minh
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 253-267; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.3.4

Abstract:
Biến dạng cưỡng bức do chênh lệch nhiệt độ là một trong những nguyên nhân thường gây ra nứt cho kết cấu bê tông của công trình cầu. Bài báo trình bày một số kết quả quan trắc thực địa sự biến thiên nhiệt độ trong bê tông của một số dầm cầu dạng hộp kín bằng bê tông cốt thép trong giai đoạn khai thác ở Việt Nam. Dựa trên các kết quả quan trắc này, một số tính toán mô phỏng tác động của sự biến thiên nhiệt độ lên dầm cầu cũng đã được thực hiện. Mặc dù các kết quả này mới là bước đầu do thời gian quan trắc chưa dài nhưng chúng cũng đã phản ánh được một số tác động của nhiệt độ lên công trình cầu mà tiêu chuẩn thiết kế chưa xét đến. Cụ thể là, trong các cầu dầm hộp, gradient nhiệt dương xuất hiện cả theo phương đứng và phương ngang. Gradient nhiệt âm cũng xuất hiện trên tất cả các mặt của cầu. Trên bản nắp và thành cầu, ứng suất do gradient nhiệt có thể lớn hơn ứng suất do hoạt tải gây ra và có thể gây nứt bê tông dầm cầu.
Hà Trần Thị Cẩm
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 189-201; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.2.8

Abstract:
Bê tông nhựa sử dụng chất kết dính bitum-epoxy (BTNE) đã được nghiên cứu, sử dụng ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới. Việc sử dụng BTNE làm tầng mặt cho các tuyến đường chịu tải trọng nặng, làm lớp phủ mặt cầu thép đã cho kết quả tốt với sự khắc phục được rất rõ một số nhược điểm của mặt đường bê tông nhựa thông thường. Thực tế khai thác mặt đường bê tông nhựa ở Việt Nam cho thấy đã có nhiều sự cố hư hỏng sớm trên các trục quốc lộ chính vì vậy việc nghiên cứu các vật liệu cải tiến là cần thiết. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm các chỉ tiêu độ ổn định, độ dẻo Marshall, độ ổn định còn lại và khả năng kháng hằn lún của bê tông nhựa sử dụng chất kết dính bitum-epoxy (BE). Các chỉ tiêu này được so sánh đối chứng với bê tông nhựa sử dụng nhựa polime III với cùng loại cốt liệu để đánh giá những ưu điểm của bê tông nhựa sử dụng chất kết dính bitum-epoxy. Kết quả nghiên cứu này cho thấy BTNE có độ ổn định Marshall, khả năng kháng lún vệt bánh vượt trội so với bê tông nhựa polime và cần có các nghiên cứu tiếp theo về BTNE để sớm đưa loại vật liệu này vào sử dụng trong các kết cấu mặt đường cấp cao ở Việt Nam.
Sơn Vũ Thái, Hưng Vũ Việt, Cường Nguyễn Tuấn, Anh Trương Đình Thảo, Việt Trần Bảo
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 176-188; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.2.7

Abstract:
Việc xác định hệ số thấm đóng vai trò quan trọng trong quá trình thiết kế thành phần của bê tông xi măng rỗng nhằm đảm bảo khả năng thoát nước của lớp mặt phủ. Do sự phức tạp của cấu trúc bê tông rỗng, các mô hình dự báo hệ số thấm cho vật liệu này chưa thực sự hiệu quả. Vì vậy, bài báo có mục tiêu thiết lập một mô hình giải tích đơn giản nhằm dự báo hệ số thấm của bê tông xi măng rỗng. Để thực hiện mục tiêu này, hai nội dung chính của nghiên cứu đã được triển khai như sau: (1) thiết lập dạng xấp xỉ của phương trình thấm Kozeny– Carman cho vật liệu bê tông xi măng rỗng; (2) xây dựng tập dữ liệu gồm 195 mẫu bê tông rỗng với các tỷ lệ hỗn hợp khác nhau được tổng hợp từ các tài liệu quốc tế mở và có uy tín để chuẩn hóa các tham số của phương trình. Thông qua các ví dụ cho các kết quả thí nghiệm độc lập, mô hình đề xuất chứng tỏ được hiệu quả trong việc dự báo hệ số thấm của bê tông xi măng rỗng dựa vào tỉ lệ thành phần vật liệu.
Lân Nguyễn Ngọc, Phúc Nguyễn Quang, Trà Nguyễn Thị Mi, Thuỷ Phạm Thị Thanh
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 288-299; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.3.7

Abstract:
Trong số các công nghệ bê tông asphalt hiện nay, công nghệ bê tông asphalt tái chế nguội bằng nhũ tương bitum kết hợp với xi măng có thể được coi là giải pháp công nghệ tiêu thụ năng lượng thấp nhất do các vật liệu thành phần không phải gia nhiệt trong quá trình chế tạo. Với hỗn hợp bê tông asphalt tái chế nguội sử dụng nhũ tương bitum và phụ gia xi măng, độ cứng của hỗn hợp phụ thuộc vào thời gian và nhiệt độ bảo dưỡng. Bài báo này đưa ra kết quả nghiên cứu thực nghiệm đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ bảo dưỡng mẫu đến sức kháng nứt của hỗn hợp bê tông asphalt tái chế nguội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cường độ chịu kéo, năng lượng phá huỷ, độ dốc đường cong sau giá trị lực lớn nhất và chỉ số kháng nứt tăng tương ứng 3034,7%, 268,3%, 252,4% và 26,3 % khi nhiệt độ bảo dưỡng mẫu tăng từ 25oC lên 60oC. Kết quả này sẽ góp phần đề xuất nhiệt độ bảo dưỡng mẫu phù hợp để tăng sức kháng nứt cho bê tông asphalt tái chế nguội.
Tuấn Nguyễn Quang, Dũng Bùi Ngọc, Hà Trần Thị Cẩm, Vinh Đỗ Vương
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 231-242; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.3.2

Abstract:
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ đặc biệt là khoa học dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, những phương pháp truyền thống đang được sử dụng dần được thay thế bởi những phương pháp hiệu quả và hiện đại hơn. Ở Việt Nam, việc xác định hàm lượng nhựa của bê tông asphalt được thực hiện bằng phương pháp chiết sử dụng máy quay li tâm. Phương pháp này gồm nhiều công đoạn và sử dụng dung môi không có lợi cho môi trường và sức khỏe con người. Bài báo trình bày nghiên cứu về ứng dụng phân tích ảnh trong việc xác định hàm lượng nhựa và độ rỗng dư của hỗn hợp bê tông asphalt. Bốn loại bê tông asphalt với nguồn cốt liệu và cấp phối khác nhau được chế tạo và thử nghiệm. Với mỗi loại bê tông asphalt, các mặt cắt bề mặt mẫu được quét thành ảnh kĩ thuật số. Chương trình xử lý ảnh được xây dựng nhằm phân tích các mẫu ảnh chụp được. Ảnh quét từ dạng màu sẽ được chuyển thể sang ảnh xám. Cốt liệu đá, nhựa đường và độ rỗng được phân biệt dựa vào độ sáng của pixel ảnh xám. Từ đó, hàm lượng nhựa và độ rỗng dư của mẫu bê tông asphalt được xác định. Kết quả nhận được cho thấy phương pháp phân tích ảnh xác định khá chính xác các đặc tính thể tích của hỗn hợp và mở ra nhiều hướng nghiên cứu trong tương lai.
Đông Đào Văn, Sơn Trịnh Hoàng
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 154-167; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.2.5

Abstract:
Bê tông geopolyme là một loại vật liệu xây dựng mới, thân thiện với môi trường đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu. Với các ưu điểm về kỹ thuật- kinh tế- môi trường, bê tông geopolymer đã được ứng dụng thành công trong kết cấu mặt đường tại một số quốc gia trên thế giới. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về quy trình thi công và đánh giá kiểm định chất lượng mặt đường bê tông geopoplyme sử dụng tro bay Vĩnh Tân trên một đoạn đường thí điểm tại tỉnh Bình Thuận, với cấp kỹ thuật là đường giao thông nông thôn cấp A (hai làn xe) thỏa mãn theo TCVN 10380-2014. Kết quả cho thấy, có thể thi công mặt đường bê tông geopolyme tương tự như mặt đường bê tông xi măng truyền thống. Đồng thời, khi đối chiếu các đặc tính cơ học và độ bằng phẳng đạt được trên đoạn đường thí điểm với các yêu cầu kỹ thuật đối với mặt đường cứng theo Quyết định số 1951/QĐ-BGTVT và 3230/QĐ-BGTVT cho thấy mặt đường bê tông geopolyme đáp ứng được yêu cầu và đảm bảo chất lượng. Qua thời gian khai thác 6 tháng, mặt đường bê tông geopolyme vẫn đảm bảo chất lượng khai thác. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để có thể sử dụng loại vật liệu này trong xây dựng công trình giao thông ở Việt Nam trong thời gian tới.
Mỹ Nguyễn Văn, Nam Phan Hoàng, Hải Nguyễn Minh, Hoa Hoàng Phương
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 300-315; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.3.8

Abstract:
Thiết kế kháng chấn dựa theo tính năng là một phương pháp thiết kế mới đã và đang được sử dụng rộng rãi. Phương pháp này bao gồm các bước phân tích xác suất hiểm họa động đất, xác suất đáp ứng động đất, xác suất hư hại động đất và cuối cùng là phân tích thiệt hại hoặc rủi ro ứng với mục tiêu tính năng của công trình. Trong đó, phân tích xác suất đáp ứng và hư hại động đất, được biểu thị bằng đồ thị trạng thái phá hủy, đóng một vai trò quan trọng trong việc đánh giá mức tính năng của công trình. Bài báo tập trung vào phương pháp giải tích nhằm xây dựng một mô hình xác suất đáp ứng động đất cho công trình cầu; từ đó, xây dựng đồ thị trạng thái phá hủy ứng với các trạng thái hư hại khác nhau của các bộ phận kết cấu. Mô hình này sau đó được áp dụng để phân tích xác suất hư hại động đất cho trụ và gối cầu của một công trình cầu vượt bê tông cốt thép trên tuyến cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi. Trong đó, công trình cầu được mô phỏng sử dụng mô hình phần tử hữu hạn 3 chiều. Các phân tích tĩnh và động lực phi tuyến của mô hình cầu được thực hiện trên nhiều bộ gia tốc nền khác nhau để xây dựng một mô hình xác suất đáp ứng động đất tối ưu cho trụ và gối cầu. Kết quả phân tích từ các đồ thị trạng thái phá hủy chỉ ra rằng xác suất xuất hiện hư hại ở mức độ vừa và nặng của trụ và gối cầu là rất thấp; trong khi đó, trạng thái hư hỏng nhẹ được ghi nhận với xác suất xuất hiện cao.
Hung Nguyen Thanh, Chanh Le Minh, Vuong Doan Dinh Thien, Hung Nguyen Dinh
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 40-51; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.1.4

Abstract:
Predicting the residual flexural capacity of corroded reinforced concrete (RC) structures is to help civil engineers decide to repair or strengthen the structures. This study presents the application of six single algorithm-based models of artificial intelligence, such as artificial neural network (ANN), support vector machine (SVM), classification and regression trees (CART), linear regression (LR), general linear model (GENLIN), and automatic Chi-squared interaction detection (CHAID) to predict the residual flexural capacity of corroded RC structures. The predicting results are compared to the surveyed data including 120 corroded RC beams from the projects built before 1975 to rank the efficiency of single models. Some combined models are applied to investigate the improvement in predicting the flexural capacity of corroded RC structures compared to the single models. The result shows that LR and GENLIN models give almost the same results and the best efficiency. The combined models can not improve the efficiency compared to the two best single models
Nhàn Hoàng Thị Thanh, Tuấn Nguyễn Quang
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 1057-1068; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.9.5

Abstract:
Hỗn hợp bê tông nhựa truyền thống được sử dụng làm lớp phủ mặt đường là hỗn hợp có cấp phối liên tục, độ rỗng nhỏ (độ rỗng dư từ 3% đến 6%), khả năng thoát nước trên mặt kém (tạo thành màng nước giữa mặt đường và bánh xe khi lượng nước mưa hoặc nước mặt lớn) gây mất an toàn khi xe chạy ở tốc độ cao. Nhằm khắc phục tình trạng này, kết cấu mặt đường sử dụng bê tông nhựa rỗng (BTNR) đã được sử dụng thay thế cho bê tông nhựa chặt (BTNC) thông thường góp phần cải thiện sức kháng trượt mặt đường (thông qua việc tăng hiệu quả thoát nước mặt đường), giảm tiếng ồn khi xe chạy với tốc độ cao, cải thiện tầm nhìn vào ban đêm khi có mưa. Tại nhiều nước trên thế giới, mặt đường BTNR thường sử dụng hỗn hợp bê tông nhựa với độ rỗng dư điển hình từ 18% đến 22%. Bài báo này nhằm giới thiệu các kết quả thiết kế thực nghiệm hỗn hợp BTNR có độ rỗng dư nằm trong khoảng từ 18% đến 22%, đồng thời phân tích các quan hệ thực nghiệm của một số chỉ tiêu cơ lý chủ yếu (hệ số thấm, độ rỗng dư, độ ổn định Marshall) của hỗn hợp BTNR. Từ kết quả thực nghiệm, mô phỏng khả năng thoát nước của lớp bê tông nhựa rỗng được thực hiện nhằm đánh giá mức độ thoát nước của mặt đường này khi trời mưa
Thảo Trần Thị Bích
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 1047-1056; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.9.4

Abstract:
Độ bền của kết cấu bê tông có chứa vết nứt phụ thuộc rất lớn vào đặc tính thấm nước của nó. Sự hiểu biết về hiện tượng truyền dẫn cho phép xác định tuổi thọ và tối ưu hoá việc thiết kế thành phần vật liệu. Vì vậy mục tiêu chính bài báo là nghiên cứu ảnh hưởng của quy luật phân bố vết nứt đến độ thấm có hiệu của mô hình mô phỏng số khối bê tông. Để đạt được mục tiêu này, trước tiên mẫu bê tông hai chiều với các hạt cốt liệu thô được khởi tạo. Tiếp đến hệ thống các vết nứt được bố trí ngẫu nhiên với sự thay đổi về mật độ. Cuối cùng các đặc tính thuỷ lực của mô hình đề xuất được xác định bởi phương pháp phần tử hữu hạn. Hơn nữa, những kết quả số thu được được dùng để chứng minh, phân tích mức độ ảnh hưởng của mật độ vết nứt và quy luật phân bố của chúng đến tính thấm có hiệu của mô hình bê tông bị nứt
Trang Du Thi Thu, Ngoc Nguyen Anh
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 90-99; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.1.8

Abstract:
In the present paper, for a finite sequence of single variable polynomials g (x) = (g1(x), g2(x), ..., gn(x)), we study the ring of geometrically bounded elements on a generalized strip Mc(g) in ℝn+1 which is the solution of the system of polynomial inequalities g1(x) £ y1 £ g1(x) + c1, g2(x) £ y2 £ g2(x) + c2 …, gn(x) £ yn £ gn(x) + cn. This ring is shown to be the finitely generated ℝ-algebra ℝ[y1 - g1(x), y2 - g2(x), ..., yn - gn(x)] provided that c = (c1, c2, ..., cn) is a positive vector. However, if c = 0 then this algebra is not finitely generated in general. In particular, we point out that the ring of geometrically bounded elements on ‘a generalized strip’ of the form M(g1, g2) in ℝ2 which is the solution of the polynomial inequality g1(x) £ y £ g2(x) is trivial (i.e., is equal to ℝ) provided that g1(x) is less than g2(x) at infinity. As a consequence, we can describe the ring of geometrically bounded elements on a finite union of disjoint strips
Anh Trần Thị Tú, Tuấn Phạm Thanh
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 1097-1106; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.9.8

Abstract:
Bảo vệ môi trường là hoạt động không thể tách rời trong kinh doanh khai thác cảng biển. Đi đôi với sự phát triển của ngành kinh tế biển thì các rủi ro, nguy cơ về môi trường càng lớn. Gần đây Việt Nam đã tham gia rất nhiều các Hiệp định, các Công ước quốc tế nên trách nhiệm bảo vệ môi trường thu hút được sự quan tâm lớn từ cộng đồng, dư luận. Tuy có nhiều doanh nghiệp cảng biển rất nỗ lực và tiên phong đi đầu trong các hoạt động bảo vệ môi trường thì cũng không ít các doanh nghiệp cảng biển vẫn chưa quan tâm đúng mực đến trách nhiệm đối với cộng đồng. Nhằm định hướng các hoạt động bảo vệ môi trường trong khai thác cảng biển, việc đề ra phương hướng chung là vô cùng cần thiết
Hưng Trần Ngọc, Hiếu Trần Trung
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 1069-1081; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.9.6

Abstract:
Chất lượng của hỗn hợp bê tông nhựa sau khi thi công phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại vật liệu thành phần được sử dụng, thiết kế thành phần các loại vật liệu, chất lượng thi công… trong đó quá trình trộn và đầm nén hỗn hợp bê tông nhựa giữ vai trò quyết định trong các yếu tố ảnh hưởng thuộc giai đoạn thi công. Bài báo tiến hành nghiên cứu thực nghiệm đánh giá sự ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ trong quá trình trộn và đầm mẫu bê tông nhựa theo phương pháp Marshall đến các đặc tính thể tích và cơ học của bê tông nhựa chặt 12,5. Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng nhựa tối ưu thiết kế thay đổi khi tăng hoặc giảm nhiệt độ trộn và đầm nén mẫu. Ngoài ra, độ ổn định Marshall, mô đun đàn hồi và cường độ chịu kéo gián tiếp của mẫu bê tông nhựa có sự thay đổi tuân theo quy luật tuyến tính theo sự thay đổi nhiệt độ trộn và đầm mẫu
Hải Nguyễn Đình, Dũng Nguyễn Tiến, Tuấn Trần Anh, Thành Vũ Bá, Trang Lê Thu, Thanh Nguyễn Văn
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 1023-1033; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.9.2

Abstract:
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích xác định một số đặc trưng cơ học của bê tông sử dụng rác thải tái chế được băm từ chai nhựa PET (PolyEthylene Terephthalate) phế thải. Trong bài báo này, ảnh hưởng của việc thay thế bê tông bởi 10, 15, 20% mảnh PET băm theo thể tích sẽ được thực hiện. Để xác định được ảnh hưởng này, nghiên cứu đã tiến hành đúc các mẫu hình lăng trụ và lập phương với các hàm lượng mảnh PET thay thế bê tông theo thể tích khác nhau và xác định tính công tác của các hỗn hợp bê tông. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi hàm lượng PET tăng lên thì tính công tác của hỗn hợp CWRP giảm xuống, với các hàm lượng mảnh PET thay thế bê tông là 10% đến 15% thì độ chảy lan giảm 7% và 36%. Khi bê tông đã đóng rắn, thực nghiệm cho thấy các giá trị cường độ chịu nén, chịu ép chẻ và mô đun đàn hồi có xu hướng giảm. Cụ thể khi thay thế bê tông bởi 10%, 15% và 20% mảnh PET thì các giá trị cường độ chịu nén giảm 35%, 41%, và 51%; cường độ chịu kéo khi uốn giảm 9,2% ; 16.45% và 19,8%; và mô đun đàn hồi giảm 18,38% ; 20.32% và 26,12% tương ứng. Đồng thời nghiên cứu cũng cho thấy khối lượng thể tích của bê tông sử dụng PET nhỏ hơn của mẫu đối chứng do khối lượng riêng của PET nhỏ hơn so với bê tông đối chứng.
Đán Đào Sỹ, Kiên Phạm Hoàng, Phê Phạm Văn
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 1010-1022; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.9.1

Abstract:
Tấm CFRP (Carbon Fiber Reinforced Polymer) là một loại vật liệu mới có nhiều nhiều ưu điểm nổi trội và nó đặc biệt thích hợp cho việc gia cường kết cấu bê tông cốt thép. Loại vật liệu này bắt đầu được ứng dụng ở các nước phát triển vào khoảng năm 1980, nhưng nó còn tương đối mới ở Việt Nam. Trong nghiên cứu này, một nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện để đánh giá cường độ chịu nén của mẫu bê tông hình trụ tròn khi được kiềm chế nở ngang bằng tấm CFRP, của hãng Toray, Nhật Bản, ở các mức độ gia cường khác nhau. Kết quả cho thấy, hiệu quả gia cường của tấm CFRP trong nghiên cứu này là cơ bản phù hợp với các mô hình đã được đề xuất bởi những nghiên cứu trước đó trên thế giới. Hiệu quả gia cường của tấm CFRP phụ thuộc rất lớn vào chất lượng thi công tấm CFRP; nó đòi hỏi người thi công phải có kinh nghiệm và tuân thủ đúng hướng dẫn của nhà phân phối vật liệu CFRP. Từ những kết quả thí nghiệm, nghiên cứu này đề xuất sử dụng các mô hình phù hợp để đánh giá cường độ chịu nén của bê tông khi được kiềm chế nở ngang bằng tấm CFRP của hãng Toray, Nhật Bản, cũng như của các hãng khác.
Phú Bùi Văn, Tuấn Nguyễn Quang, Phúc Nguyễn Quang
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 1082-1096; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.9.7

Abstract:
Mô đun phức động (complex modulus) và hệ số Poát xông phức động (complex Poisson’s ratio) là 2 tham số mô tả tính chất đàn nhớt tuyến tính 3 chiều của hỗn hợp bê tông nhựa (BTN) dưới tác dụng của tải trọng có tính chu kỳ (tải trọng động). Bài báo trình bày nghiên cứu thực nghiệm xác định hệ số Poát xông động |ν*| của hỗn hợp bê tông nhựa bằng cách sử dụng thiết bị nén Cooper kết hợp với các đầu đo biến dạng gắn thêm có độ chính xác cao lắp đặt trên thân mẫu hình trụ tròn. Thí nghiệm được thực hiện tại nhiều tần số và nhiệt độ khác nhau. Ba loại BTN, trong đó có hai loại BTN sử dụng cùng một loại nhựa đường nguyên gốc 60/70 và một loại BTN sử dụng nhựa đường polyme PMB3 được sử dụng để nghiên cứu. Đây là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam đo đạc hệ số Poát xông của bê tông nhựa trong khoảng rộng về tần số và nhiệt độ. Kết quả thí nghiệm cho thấy rằng hệ số Poát xông động |ν*| không phải là một hằng số mà thay đổi phụ thuộc vào thời gian tác dụng lực và nhiệt độ. Hệ số Poát xông động tăng khi nhiệt độ tăng hoặc tần số tác dụng lực giảm và ngược lại. Góc lệch pha ϕν giữa biến dạng theo phương dọc trục và biến dạng theo phương ngang cũng được xác định. Kết quả thực nghiệm cũng cho thấy có sự liên hệ giữa hệ số Poát xông với loại bê tông nhựa thí nghiệm. Với 2 loại BTN sử dụng cùng loại nhựa đường 60/70, hệ số dịch chuyển aT là xấp xỉ nhau
Hai Nguyen Dinh
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 31-39; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.1.3

Abstract:
Contact mechanics is a topic that performs the investigation of the deformation of solids that touch each other at one or more points. A principal distinction in contact mechanics is between stresses acting perpendicular to the contacting bodies' surfaces and stresses acting tangentially between the surfaces. This study focuses mainly on the normal stresses that are caused by applied forces. As a case study, the present work aims at investigating the bi-dimensional contact mechanics of wavy cosinusoidal anisotropic finite planes. To achieve this objective, results on the displacement and stress component are first calculated with the help of the Lekhnitskii formalism. Then, with the application of normal pressure at plane surface and by applying boundary conditions at depth h of solid we obtain solution for the contact pressure in closed form. In case of infinite anisotropic plane where the depth h tends to infinite, by using results obtained with finite h we derive the analytical solution for vertical displacement at the surface. As an illustration, behaviour of a monoclinic material under consinusoidal pressure is analyzed
Khoi Tran Van, Anh An Thi Hoai Thu
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 75-89; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.1.7

Abstract:
Supercapacitors (SCs) are important devices used in renewable energy storage applications on urban railways due to their high power density, good performance, and long maintenance-free lifetime. The position and capacity of supercapacitors play an essential role in increasing energy efficiency and improving the operating condition of the power supply system. This paper proposes an optimal methodology to place a supercapacitor energy storage system (SESS) for urban railway lines. The proposed method uses simulation tools to determine the level of renewable energy as well as the cycle of renewable energy occurrence at substations. Next, based on the working characteristics of the supercapacitor to calculate the accumulated energy that can be reused. Finally, the problem of the optimal siting and sizing of the SESSs is solved to maximize the economic benefits. A case study is applied to evaluate the algorithm. The simulation results demonstrate that installing the optimal SESS can increase energy efficiency, lower transient power, and the solution found is the best choice for economic goals
Huong Cao Thi Mai, Tien Nguyen Duy, Phe Pham Van, Thanh Bui Tien, Binh Nguyen Duc
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 16-30; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.1.2

Abstract:
The inelastic buckling resistances of wide flange beams are strongly influenced by residual stresses and initial imperfections. However, the resistances as evaluated from simple solutions presented in several popular design specifications are found to be considerably different. The present study thus develop a numerical solution in ABAQUS software to investigate the inelastic buckling moment resistances of rolled steel beams with compact sections and subjected to the effects of residual stresses and initial imperfections. The residual stresses are taken as provided in AISC, CSA S16, EC 3 specifications, while the initial imperfections are taken as the first lateral-torsional buckling mode with a magnitude limited in AISC, CSA specifications. Through comparisons between the specifications and the numerical solutions, one observes a significant difference between the moment resistances predicted by the specifications, in which the AISC predicts the highest values, while the EC 3 predicts the lowest moments. The moment resistances based on the present numerical models lie between the EC 3 and CSA solutions and they are relatively close to EC 3 solutions. Effects of load height positions on the inelastic buckling moment resistances are significant, as investigated in the present study
Quân Từ Sỹ, Tươi Nguyễn Văn, Dương Lê Văn, Tâm Nguyễn Thành, Truyền Trần Thế
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 1034-1046; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.9.3

Abstract:
Việc sử dụng sỏi nhẹ keramzit thay thế cốt liệu thô trong bê tông đã từng bước được áp dụng trong các công trình xây dựng tại Việt Nam và trên thế giới, giúp giảm đáng kể trọng lượng phần trên của kết cấu, tiết kiệm được chi phí liên quan đến cẩu lắp cũng như kết cấu phần dưới. Bên cạnh đó, tính toán chiều dài triển khai của cốt thanh gia cường dựa trên cơ sở ứng xử dính bám với bê tông nền là việc làm bắt buộc đối với công tác thiết kế bố trí cốt thanh polimer sợi thủy tinh (GFRP) trong kết cấu bê tông. Các tiêu chuẩn cũng khuyến cáo có sự suy giảm nhất định của ứng xử dính bám đối với trường hợp của bê tông nhẹ, kéo theo sự suy giảm khả năng chịu tải của các cấu kiện.Do vậy, các thí nghiệm kéo tụt thanh GFRP ra khỏi mẫu (pull out test) đã được tiến hành trên các mẫu bê tông nhẹ hình lập phương có cùng thành phần cấp phối với ba loại đường kính thanh khác nhau và với chiều dài neo gấp năm lần đường kính thanh. Các tiêu chuẩn của Mỹ, Canada và Nhật bản đã được sử dụng để tham chiếu cho thấy các tính toán lý thuyết thiên về an toàn hơn so với kết quả thí nghiệm thu được. Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho phép đưa ra các khuyến cáo cho công tác thiết kế, cụ thể là trong trường hợp của kết cấu có sử dụng bê tông sỏi nhẹ và cốt thanh gia cường GFRP.
Cam Lê Xuân, Vinh Nguyễn Văn, Hải Hoàng Hồng, Cúc Nguyễn Thị Kim
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 1107-1117; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.9.9

Abstract:
Việc sử dụng dữ liệu ba chiều (3D) trong lĩnh vực đo lường công nghiệp ngày càng trở nên phổ biến do sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật quét laser. Tuy nhiên, độ chính xác và độ không đảm bảo đo của các loại phương pháp này chưa được nghiên cứu nhiều. Trong nghiên cứu này, một mô hình đánh giá và trình bày độ không đảm bảo đo cho phép đo sai lệch độ trụ của các chi tiết tròn xoay đã được đề xuất và áp dụng cho thiết bị đo biên dạng chi tiết tròn xoay sử dụng hệ thống đo Laser scan micrometer (LSM). Các thí nghiệm đã được thực hiện bằng cách sử dụng phương pháp đảo ngược để đo sai lệch độ trụ trong phòng thí nghiệm với hai sai lệch thành phần theo mặt cắt ngang và mặt cắt dọc trục. Kết quả thực nghiệm phép đo độ trụ bằng phương pháp quét laser đo biên dạng chi tiết tròn xoay chế tạo có độ không đảm bảo đo mặt cắt ngang trục là 1,68 m và dọc trục là 6 µm với xác xuất tin cậy 95%
Tuan Tran Anh, Hai Hoang Viet, Tu Do Anh, Nhiem Tran Duc
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 52-60; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.1.5

Abstract:
Orthotropic steel bridge decks (OSBDs) have been widely used in long span bridges with many advantages, however, the long-term performance of the asphalt wearing course is still questionable. There is a lack of understanding the causes of cracking and adhesion failure between the tack coat and the steel plate, etc. Therefore, this paper focuses on the adhesion failure between the asphalt wearing course and the steel plate, and the temperature influence on the mechanical behavior of the orthotropic deck. The five-point bending beam test model using the finite element model is used in this investigation in order to clarify the effect of ratio of adhesion failure and the temperature on the mechanical behavior of the OSBD. The ratio of adhesion failure varies from 0.1 to 0.5, and the temperature changes from 30oC to 60oC. The results reveal the influence of temperature and adhesion failure on the mechanical behavior of the OSBD
Long Ho Viet, Trang Trinh Thi, Ba Ho Xuan
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 1-15; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.1.1

Abstract:
Artificial neural network (ANN), a powerful technique, has been used widely over the last decades in many scientific fields including engineering problems. However, the backpropagation algorithm in ANN is based on a gradient descent approach. Therefore, ANN shows high potential in local stagnancy. Besides, choosing the right architecture of ANN for a specific issue is not an easy task to deal with. This paper introduces a simple, effective hybrid approach between an optimization algorithm and a traditional ANN for damage detection. The global search-ability of a heuristic optimization algorithm, namely grey wolf optimizer (GWO), can solve the drawbacks of ANN and also improve the performance of ANN. Firstly, the grey wolf optimizer is used to update the finite element (FE) model of a laboratory steel beam based on the vibration measurement. The updated FE model of the tested beam then is used to generate data for network training. For an effective training process, GWO is utilized to identify the optimal parameters for ANN, such as the number of the hidden nodes, the proportion of dataset for training, validation, test, and the training function. The optimization process provides an optimal structure of ANN that can be used to predict the damages in the beam. The obtained results confirm the accuracy, effectiveness, and reliability of the proposed approach in (1) alleviating the differences between measurement and simulation and (2) damage identification including damage location and severity, in the tested beam considering noise effects. For both applications, dynamic characteristics like natural frequencies and mode shapes of the beam derived from the updated FE model, are collected to calculate the objective function
Hải Nguyễn Thanh, Thạch Đặng Quang, Văn Cồ Như, Khuyến Trần Văn
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 1118-1130; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.9.10

Abstract:
Bộ đếm trục là một thiết bị quan trọng để hệ thống điều khiển tín hiệu đường sắt hoạt động an toàn và chính xác. Hiện nay thiết bị đếm trục nhập khẩu được dùng phổ biến trong hệ thống tín hiệu đường sắt, bài báo này đưa ra giải pháp chế tạo thiết bị đếm trục sử dụng cho đường sắt Việt nam. Nguyên lý của cảm biến dựa vào sự thay đổi từ thông qua cuộn thu khi bánh tàu đi qua cảm biến, mạch xử lý tín hiệu căn cứ vào biên độ và pha điện áp từ cuộn thu nhận dạng trạng thái của bánh tàu chiếm dụng vùng không gian đặt cảm biến. Cảm biến và mạch xử lý đã được chế tạo và thử nghiệm trên một số tuyến thuộc đường sắt Việt nam, kết quả cho thấy ngưỡng giữa trạng thái có tàu và không có tàu được phân biệt rõ ràng. Giá trị đếm trục được truyền về trung tâm điều khiển qua mạng truyền thông CAN độ tin cậy cao. Ứng dụng của thiết bị chế tạo có thể được dùng cho ga điện khí tập trung, hệ thống tự động cảnh báo đường ngang, hệ thống đóng đường tự động
The Nguyen Tien, Quan Do Hai, Anh Pham Ba Viet, Thien Nguyen Luong
Transport and Communications Science Journal, Volume 73, pp 61-74; https://doi.org/10.47869/tcsj.73.1.6

Abstract:
Generally, friction/perturbation compensation is an important issue in high-precision motion control applications. In particular, when the system under control undergoes low-speed or reversal motions, the friction force and external perturbations will degrade motion accuracy. In this paper, we study analysis of perturbed frictional contact problems. Its shows how homotopy perturbation techniques and projection can be integrated in control-based approach to reanalyze the perturbed frictional contact problems. Thus, the perturbed non linear problem is decomposed into perturbed linear problems dedicated to each component in contact. Each solution of perturbed linear problems is approximated. A numerical application is performed to verify the efficiency and the robustness of the proposed method. The proposed method has been developed to be compatible within a context of multiple sampling (such as parametric analysis or design of experiments). The proposal relies on a control based method currently used in automation domain. A Fuzzy Logic Controller (FLC) is designed to link the normal gaps identified between the bodies and the normal contact pressures applied at the interface. Finally, a design of experiments is proposed to quantify the effects of input perturbations on output mechanical data
Thiệu Đỗ Xuân
Transport and Communications Science Journal, Volume 70, pp 11-20; https://doi.org/10.25073/tcsj.70.1.39

Abstract:
Xử lý tín hiệu điện tim ECG sử dụng biến đổi wavelet đã được thực hiện hiệu quả trong chẩn đoán y học. Việc xử lý tín hiệu điện tim cơ bản là khử nhiễu và tách các điểm đặc trưng phát hiện các sóng, đỉnh sóng, tính nhịp tim. Các phương pháp xử lý tín hiệu truyền thống thường sử dụng phép biến đổi wavelet rời rạc DWT. Tuy nhiên, DWT có thể sinh ra những dao động giả tạo làm méo dạng tín hiệu. Bài báo đề xuất một giải thuật ngưỡng wavalet dịch bất biến dựa trên cơ sở biến đổi wavelet rời rạc dịch bất biến TIDWT để khử nhiễu tín hiệu điện tim, loại bỏ được những nhiễu phát sinh gây ra do quá trình biến đổi tín hiệu, nâng cao hiệu quả khử nhiễu. Hiệu năng của thuật toán đề xuất sẽ được đánh giá bằng mô phỏng trên đồ thị và tính toán tỉ số tín hiệu trên nhiễu SNR.
Thọ Phạm Đức, Truyền Trần Thế, Thắng Bùi Anh, Ba Hồ Xuân
Transport and Communications Science Journal, Volume 70, pp 63-72; https://doi.org/10.25073/tcsj.70.1.44

Abstract:
Nghiên cứu này sử dụng mô hình lưới (lattice model) để mô phỏng sự hình thành và phát triển các vi khe nứt và ảnh hưởng của nó đến hệ số thấm của cấu kiện bê tông tăng cường sợi thép (FRC). Trong mô hình này, bê tông được xem là bão hòa nước và bỏ qua ảnh hưởng của hiện tượng mao dẫn. Luật ứng xử kết hợp cơ-thủy được phát triển dựa trên mô hình cơ học phá hủy Mazars với sự tăng độ thấm của bê tông là 1 hàm lập phương của độ mở rộng vết nứt. So sánh kết quả mô phỏng với thực nghiệm cho thấy mô hình đề xuất là 1 công cụ hữu hiệu cho phép đánh giá độ mở rộng vết nứt và ảnh hưởng của nó đến sự thay đổi hệ số thấm của bê tông sợi thép, có vai trò quan trọng trong việc phân tích độ bền của các kết cấu bê tông cốt sợi thép.
Việt Trần Bảo
Transport and Communications Science Journal, Volume 70, pp 53-62; https://doi.org/10.25073/tcsj.70.1.43

Abstract:
Bài báo có nội dung chính là thiết lập mối quan hệ giải tích giữa độ rỗng và cường độ của vật liệu bê tông rỗng. Dựa trên mô hình cải tiến 3 pha quả cầu lồng nhau với pha lỗ rỗng hình cầu được bao quanh bởi lớp vỏ vật liệu bê tông nằm trong miền vật liệu trung bình, trường ứng suất và biến dạng của vật liệu được tính toán, từ đó các đặc trưng trung bình về mô đun đàn hồi và cường độ được thiết lập phụ thuộc vào các thông số của vật liệu. Một số so sánh giữa kết quả lý thuyết và thực nghiệm được thực hiện để kiểm chứng hiệu quả của mô hình.
, Tuấn Trần Anh, Hải Nguyễn Đình
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 893-907; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.4

Abstract:
Trong những năm gần đây, phương pháp phase field là một công cụ mô phỏng đáng tin cậy và hiệu quả để dự đoán hư hỏng trong kết cấu chứa các loại vật liệu xây dựng. Trong kết cấu nhiều pha vật liệu, hình dạng mặt phân giới giữa các pha thường rất phức tạp, điều này gây khó khăn trong việc xác định ranh giới của các pha này dẫn tới kết quả mô phỏng không chính xác. Do đó, mục tiêu của bài báo này: (i) sử dụng phương pháp phase field để mô phỏng sự hình thành và lan truyền vết nứt trong kết cấu chứa nhiều pha vật liệu với sự tương tác giữa hư hỏng trong nội tại các pha (mô tả bằng biến phase field d) và hư hỏng mặt phân giới của các pha (đại điện bằng biến phase field bổ sung ); (ii) xây dựng một hàm con bổ sung xử lý các định dạng ảnh của kết cấu với mỗi màu đại diện cho một pha vật liệu, dựa trên nguyên lý một màu sẽ có một dải số đại diện để xác định hình dạng mặt phân giới. Các kết quả đạt được của bài báo này cho thấy phương pháp phase field hiện tại kết hợp với hàm con bổ sung có thể mô phỏng chính xác hư hỏng của kết cấu chứa nhiều pha vật liệu thành phần.
Đức Nguyễn Đắc, Tùng Quách Thanh
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 908-919; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.5

Abstract:
Trong quy trình thiết kế truyền thống, sử dụng bản vẽ trong mặt phẳng (thường là CAD2D) là công cụ chính để thể hiện ý tưởng thiết kế. Các bản vẽ 2D theo thiết kế truyền thống thường không có liên hệ về mặt không gian và quản lý. Để thể hiện thiết kế của một công trình các kỹ sư dùng các bản vẽ mặt đứng, mặt bằng, mặt cắt, các ghi chú...do đó đôi khi khó khăn trong việc hình dung ra hình dạng không gian của kết cấu cũng như khó lường trước được các xung đột trong công trình. Với mô hình thông tin công trình (Building Information Modeling - BIM), công trình xây dựng được thể hiện trên môi trường 3D, có thuộc tính về hình học, vật liệu và các bản vẽ 2D sẽ được tạo ra từ mô hình 3D việc này giúp các bên tham gia dự án có hình ảnh 3D tổng thể về công trình, điều chỉnh thiết kế và xử lý được các xung đột ngay từ khi xây dựng mô hình. Tại Việt Nam, việc ứng dụng BIM cho các công trình cầu còn khá mới mẻ, lý do quan trọng bởi các đơn vị tham gia dự án còn khá hoài nghi về quy trình áp dụng BIM cũng như tính khả thi của nó so với thiết kế truyền thống, bên cạnh đó đội ngũ nhân lực cũng như hạ tầng công nghệ thông tin còn chưa được đầu tư đúng mức dẫn đến cần chi phí đầu tư ban đầu lớn về phần cứng cũng như các phần mềm trong hệ sinh thái BIM... Bài viết xin chia sẻ về quy trình làm việc khi ứng dụng BIM cho công trình cầu, đồng thời nêu ra những khó khăn thách thức và giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình áp dụng BIM được đầy đủ, đồng bộ và hiệu quả.
Ngọc Trần Cao Thanh, Huy Nguyễn Xuân, Bình Nguyễn Nghĩa, Hậu Phạm Minh
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 932-944; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.7

Abstract:
Dầm bê tông cốt GFRP được sử dụng ngày càng phổ biến trong thời gian gần đây do khả năng chống ăn mòn của cốt GFRP. Việc gia cường khả năng chịu tải của loại kết cấu này có thể phải được thực hiện ngay trong quá trình thi công của công trình do yêu cầu từ việc thay đổi công năng của kết cấu. Bài báo trình bày về kết quả thí nghiệm gia cường kháng cắt cho dầm bê tông cốt GFRP được gia cường kháng cắt bằng bê tông cốt lưới dệt (TRC). Hai mẫu dầm bê tông cốt GFRP có tỉ số nhịp chia cho chiều cao hữu hiệu (a/d) là 1,7, không được bốt trí cốt đai được thí nghiệm chịu cắt ba điểm. Trong hai mẫu này, một mẫu dầm không được gia cường phục vụ như mẫu đối chứng và mẫu còn lại được gia cường hai lớp bê tông cốt lưới dệt. Kết quả thí nghiệm cho thấy, bê tông cốt lưới dệt đem lại hiệu quả tốt trong việc gia cường khả năng kháng cắt của dầm bê tông cốt GFRP. Kết hợp từ tiêu chuẩn ACI 318-19 và mô hình bong tách từ nghiên cứu trước cho kết quả tương đối chính xác kết quả thực nghiệm cường độ kháng cắt cực đại của dầm bê tông cốt GFRP và dầm được gia cường bằng lưới dệt TRC.
Khánh Nguyễn Văn, Bình Nguyễn Đình, Trung Nguyễn Bảo,
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 967-981; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.10

Abstract:
Trong vài thập kỷ gần đây, nhiều nghiên cứu về mô hình dự báo dựa trên chuỗi thời gian mờ đã được đề xuất. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến kết quả dự báo đã được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu như kỹ thuật chia khoảng tập nền, các luật dự báo và kỹ thuật giải mờ. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế và chưa làm hài lòng người sử dụng. Trong bài báo này, chúng tôi đề xuất một phương pháp nâng cao hiệu quả của mô hình dự báo chuỗi thời gian mờ trên cơ sở kết hợp tối ưu các khoảng chia tập nền bằng thuật toán tối ưu bầy đàn và kỹ thuật giải mờ mới hiệu quả. Mô hình dự báo được đề xuất được ứng dụng để dự báo số sinh viên nhập học của Trường Đại học Alabama từ năm 1971 đến năm 1992. Kết quả thực nghiệm cho thấy, mô hình dự báo được đề xuất hiệu quả hơn các mô hình dự báo hiện có đối với cả chuỗi thời gian mờ bậc nhất và chuỗi thời gian mờ bậc cao.
Hải Nguyễn Mạnh, Hoà Trần Ngọc, Thành Bùi Tiến, Hưng Trần Việt, Tiến Nguyễn Duy
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 866-881; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.2

Abstract:
Thuật toán tối ưu hoá chim cúc cu (Cuckoo Search – CS) là một thuật toán tiến hóa phổ biến đã được sử dụng để giải quyết nhiều vấn đề tối ưu hóa trong nhiều thập kỷ qua. Tuy nhiên, một trong những nhược điểm cơ bản của CS là thuật toán này cố định vận tốc của các quần thể trong toàn bộ quá trình tìm kiếm giải pháp tối ưu, vì vậy giảm sự linh hoạt trong quá trình di chuyển của các phần tử. Ngoài ra CS không chỉ phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của quần thể ban đầu mà còn không có các khả năng như giao chéo hay đột biến để cải thiện chất lượng của các thế hệ mới. Để khắc phục nhược điểm này của CS, trong nghiên cứu này, một CS cải tiến (ICS) kết hợp với thuật toán di truyền (GA) được đề xuất. Để chứng minh được hiệu quả của phương pháp được đề xuất (Thuật toán lai giữa GA và ICS - HGAICS), một kết cấu cầu giàn thép nhịp lớn đã được sử dụng. HGAICS được sử dụng để giảm sự khác biệt giữa kết quả mô hình số và mô hình thực nghiệm, xác định các tham số bất định của kết cấu. Kết quả thu được cho thấy HGAICS vượt trội hơn GA và CS về độ chính xác và giảm thời gian tính toán so với GA.
, Hòa Phạm Duy
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 882-892; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.3

Abstract:
Nghiên cứu mô phỏng ứng xử cơ học của vật liệu bê tông là một nội dung rất quan trọng trong quá trình thiết kế, đánh giá hiện trạng công trình trong thực tế. Để hạn chế một số nhược điểm mô phỏng của phương pháp liên tục, nội dung của nghiên cứu này trình bày quá trình mô phỏng 3D vết nứt trong vật liệu bê tông sử dụng ứng suất chính trong phương pháp phần tử rời rạc (Discrete Element Method - DEM). Mã nguồn mở Granular Object Oriented (GranOO) đã được sử dụng. Trong GranOO, vật liệu liên tục được coi là một tập hợp gồm các phần tử có hình cầu liên kết với nhau. Ứng xử cơ học của vật liệu được mô phỏng thông qua các dầm liên kết nối giữa các phần tử tiếp xúc. Các thông số vi mô của các dầm này được xác định thông qua quá trình hiệu chỉnh. Nghiên cứu đã giới thiệu quá trình mô hình hóa hình học và mô hình hóa cơ học trong DEM. Quá trình mô phỏng thí nghiệm số kéo giản đơn mẫu bê tông hình lập phương có cạnh 10 cm đã được thực hiện ở miền đàn hồi và phá hủy. Kết quả mô phỏng thu được rất sát với lý thuyết về giá trị mô đun Young, cũng như sự xuất hiện và phát triển của vết nứt.
Tuấn Đỗ Đức, Toàn Nguyễn Đức
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 850-865; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.1

Abstract:
Trong quá trình tính toán sức kéo đoàn tàu đường sắt, sau khi giải quyết các bài toán về xác định và kiểm nghiệm khối lượng đoàn tàu, xây dựng biểu đồ hợp lực đơn vị và tính toán hãm đoàn tàu, bài toán cuối cùng đặt ra là tính toán vận tốc và thời gian vận hành của đoàn tàu trên khu gian hoặc tuyến đường. Do tính đa dạng của các loại đoàn tàu, nên khối lượng tính toán là khá lớn, chiếm nhiều thời gian nếu tiến hành bằng phương thức thủ công truyền thống Vì vậy, trên cơ sở lý thuyết đã biết, bằng ngôn ngữ lập trình Java đã tiến hành xây dựng chương trình tính toán vận tốc và thời gian vận hành của đoàn tàu áp dụng cho ngành đường sắt Việt Nam. Chương trình có chức năng vẽ các biểu đồ và ở các chế độ vận hành chạy đà, kéo và hãm cho các loại đoàn tàu trên bất kỳ khu gian hoặc tuyến đường nào. Chương trình cũng cho phép tăng nhanh tốc độ, đảm bảo tính linh hoạt và thuận tiện trong quá trình tính toán với các phương án lập tàu khác nhau.
Trung Nguyễn Thành, Thắng Vũ Toàn, Dũng Vũ Tiến
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 982-993; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.11

Abstract:
Sai lệch độ trụ là sai số tổng hợp đóng vai trò quan trọng trong đánh giá chất lượng các chi tiết cơ khí. Việc đánh giá sai lêch độ trụ thường dựa trên dữ liệu điểm đo xác định bằng máy đo ba toạ độ hoặc các máy quét 3D, máy đo độ tròn. Hiện nay, có 4 thuật toán được sử dụng để tính sai lệch độ trụ: mặt trụ bình phương tối thiểu (Least Square Cylinder – LSC), mặt trụ ngoại tiếp nhỏ nhất (Mimimum Circumscibed Cylinder – MCC), mặt trụ nội tiếp lớn nhất (Maximum Inscribed Cylinder – MIC) và mặt trụ miền tối thiểu (Minumum Zone Cylinder – MZC). Bài báo trình bày phương pháp sử dụng thuật toán tối ưu tính toán đường kính, sai lêch độ trụ từ bộ dữ liệu điểm đo và so sánh kết quả theo cả 4 phương pháp trên với kết quả của máy đo toạ độ (Coordinate Measuring Machine - CMM) với độ sai lệch không vượt quá 0,8 µm.
Bằng Lý Hải, Anh Nguyễn Thùy, Vân Mai Thị Hải, Hùng Nguyễn Hữu
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 994-1009; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.12

Abstract:
Kết cấu nền – mặt đường ô tô bao gồm các lớp mặt đường và nền đất, trong đó, tác dụng chính của nền là phân bố, giảm ứng suất dọc từ trên mặt đường xuống khi chịu tác dụng của tải trọng. Để đảm bảo cường độ và ổn định của kết cấu nền – mặt đường, nền đất phải có đủ cường độ. Đặc trưng cho cường độ của đất nền là mô đun đàn hồi, là một thông số quan trọng sử dụng trong tính toán, kiểm toán kết cấu nền - mặt đường. Tuy nhiên, việc xác định mô đun đàn hồi của vật liệu đất đắp nền đường bằng các phương pháp thí nghiệm trong phòng hay thực nghiệm ngoài hiện trường như hiện nay còn công phu, thiết bị thí nghiệm cồng kềnh, tốn kém về thời gian, chi phí. Trong nghiên cứu này, mô hình mạng nơ ron nhân tạo với thuật toán One-step-secant được đề xuất để dự đoán mô đun đàn hồi của vật liệu đất nền. Cơ sở dữ liệu trong nghiên cứu gồm 418 kết quả thí nghiệm được sử dụng để phát triển mô hình mạng nơ ron nhân tạo (ANN). Kết quả cho thấy mô hình ANN là một công cụ hiệu quả trong việc dự đoán mô đun đàn hồi đất nền (RMSE=2.9401, MAE=2.3075, R2=0.9858), giúp tiết kiệm thời gian, giảm chi phí thí nghiệm. Ngoài ra, mô hình ANN còn đánh giá được mức độ ảnh hưởng của từng tham số đến mô đun đàn hồi của vật liệu đất đắp nền đường, trong đó ứng suất giới hạn là thông số quan trọng nhất.
Lân Nguyễn Ngọc, Quyết Trương Văn
Transport and Communications Science Journal, Volume 72, pp 920-931; https://doi.org/10.47869/tcsj.72.8.6

Abstract:
Hỗn hợp asphalt tái chế thường có độ cứng cao do sử dụng bitum đã bị lão hoá có trong RAP, vì vậy sức kháng nứt trở thành mối quan tâm, đặc biệt khi hỗn hợp có hàm lượng RAP cao. Ngoài ra, sự hoá già của bitum trong hỗn hợp asphalt cũng là một trong những nguyên nhân gây ra các hư hỏng liên quan đến nứt. Bitum bị hoá già có thể xảy ra trong quá trình sản xuất, thi công và khai thác mặt đường. Vì vậy, đánh giá sức kháng nứt của bê tông asphalt là một trong những chỉ tiêu cần được thực hiện để có thể nâng cao được chất lượng và độ bền của mặt đường asphalt trong thời gian khai thác. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm đánh giá sức kháng nứt của hỗn hợp bê tông asphalt tái chế ấm có tỷ lệ RAP bằng 30% và 50%. Sức kháng nứt của hỗn hợp asphalt được đánh giá thông qua chỉ số kháng nứt (Cracking Tolerance Index – CTIndex). Ba điều kiện hoá già được thực hiện với hỗn hợp ở trạng thái rời sau khi trộn bao gồm hoá già ngắn hạn 4 giờ 135oC, hoá già dài hạn 24 giờ 135oC và hoá già dài hạn 8 ngày ở 95oC sau khi hoá già ngắn hạn. Trên cơ sở kết quả thí nghiệm chỉ số kháng nứt CTIndex ứng với các điều kiện hoá già khác nhau, nghiên cứu đưa ra được các kết luận ảnh hưởng của các điều kiện hóa già khác nhau đến sức kháng nứt của hỗn hợp bê tông asphalt tái chế ấm có tỷ lệ RAP cao.
Page of 4
Articles per Page
by
Show export options
  Select all
Back to Top Top