Refine Search

New Search

Results: 255

(searched for: publisher_group_id:15185)
Save to Scifeed
Page of 6
Articles per Page
by
Show export options
  Select all
Quang Nhật Hồ, Quang Thanh Lê, Hồ Thúy Ái Phạm, Huy Hòa Phạm, Vũ Quốc Huy Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 43-48; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.1245

Abstract:
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ nhiễm Human Papilloma Virus (HPV) nguy cơ cao và yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm HPV nguy cơ cao ở phụ nữ có tổn thương tiền ung thư cổ tử cung (CTC) tại Bệnh viện Từ Dũ. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 788 phụ nữ từ 21 đến 68 tuổi đến khám tại Bệnh viện Từ Dũ từ 10/2019 tới 12/2020 và được làm xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung, xét nghiệm HPV nguy cơ cao và sinh thiết giải phẫu bệnh CỔ TỬ CUNG nếu có chỉ định. Kết quả: Tỉ lệ nhiễm HPV nguy cơ cao trên những phụ nữ có tổn thương tiền ung thư cổ tử cung được khảo sát là 52,8%, trong đó số phụ nữ bội nhiễm HPV 16, 18 và HPV nguy cơ cao khác chiếm cao nhất (13,7%), kế đến là nhiễm HPV 16 (12,01%) và HPV 18 (5,29%). Tuổi, số lần mang thai, và số con liên quan với bất thường tế bào học cổ tử cung (p<0,05). Có sự liên quan về mặt thống kê giữa tình trạng nhiễm HPV nguy cơ cao với các loại bất thường cổ tử cung và các loại mô bệnh học cổ tử cung (p<0,05). Tỉ lệ phụ nữ có bất thường tế bào loại tế bào vảy không điển hình có ý nghĩa chưa xác định (ASC-US) và HPV nguy cơ cao (+) chiếm tỉ lệ cao nhất 63,63% (175/275). Kết luận: Tỉ lệ nhiễm HPV nguy cơ cao trên các bệnh nhân có bất thường tế bào CỔ TỬ CUNG là 52,80%. Trong số các loại bất thường cổ tử cung, phân loại ASC-US và HPV nguy cơ cao (+) chiếm tỉ lệ cao nhất với đa số bệnh nhân biểu hiện niêm mạc kênh cổ tử cung bình thường. Các yếu tố: tuổi mẹ, số lần mang thai và số con có liên quan đến bất thường tế bào học cổ tử cung.
Thị Ngọc Phương Trần, Thị Diễm Tuyết Hoàng, Nguyễn Khánh Trang Huỳnh
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 14-18; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.781

Abstract:
Trong thai kỳ, nỗi sợ giúp thai phụ chuẩn bị tâm lý đầy đủ cho một cuộc sinh tốt đẹp. Tuy nhiên, khi sợ hãi ở mức độ không kiểm soát được, ảnh hưởng nặng nề đến thể chất và tinh thần của thai phụ được gọi là chứng “sợ sinh con”. Tư vấn, hướng dẫn, tạo điều kiện để trải nghiệm quá trình sinh cho thai phụ sẽ giúp ổn định tâm sinh lý thai phụ trước sinh. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ kiến thức, thái độ và hành vi của thai phụ ở ba tháng cuối thai kỳ trước và sau khi tham gia chương trình giáo dục tiền sản tại Bệnh viện Hùng Vương và sự hài lòng. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 134 thai phụ ở 3 tháng cuối thai kỳ tại Bệnh viện Hùng Vương hội đủ các tiêu chí chọn mẫu trong thời gian từ 02/2019 – 08/2019. Kết quả: Chương trình “Hành trình vượt cạn” (HTVC) giúp thai phụ: Tỷ lệ thay đổi kiến thức: 99,3 KTC 95% [98,6 -99,9]; Tỷ lệ thay đổi thái độ 80,7 KTC05% [73,9 – 87,3] và hành vi 76,9 KTC 95% [ 69,8 -84]. Tỷ lệ sinh ngã âm đạo ( Đ) ở nhóm tham gia HTVC so với tỷ lệ chung của bệnh viện cùng thời gian là 48,6% KTC 95% [47,9 - 49,3] và 34,1% KTC 95% [25,7 - 42,5]. Tỷ lệ khách hàng hài lòng khi tham gia chương trình là 99,3% và mức độ rất hài lòng 78,4 KTC 95% [74,8 -84]. Kết luận: Thai phụ nên tham gia các chương trình giáo dục tiền sản và trong tương lai vấn đề này cần được nghiên cứu thêm Từ khóa: Chứng sợ sinh con, nghiên cứu cắt ngang, giáo dục tiền sản.
Thị Cẩm Nhung Nguyễn, Thị Minh Anh Nguyễn, Trọng Kha Huỳnh, Thị Kim Anh Phan, Thị Minh Tâm Lưu, Tú Cầm Trần
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 55-59; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.1324

Abstract:
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của việc sụp khoang phôi nhân tạo bằng phương pháp laser trên nhóm phôi nang trước khi thủy tinh hóa. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đây là một nghiên cứu hồi cứu được thực hiện tại IVFMD, Bệnh viện Mỹ Đức, từ tháng 11 năm 2020 đến tháng 1 năm 2021. Tiêu chuẩn nhận bao gồm các bệnh nhân có độ tuổi từ 18-35; số chu kỳ TTTON ≤2 và có ít nhất một phôi nang tốt trữ đông theo tiêu chuẩn của Gardner và Schoolcraft (1999). Tiêu chuẩn loại trừ là các chu kỳ xin cho noãn, chẩn đoán di truyền tiền làm tổ, nuôi trưởng thành noãn non và các trường hợp vợ có bất thường về tử cung. Bệnh nhân được chia thành hai nhóm: nhóm nghiên cứu với phôi nang làm sụp khoang phôi bằng phương pháp laser trước khi thủy tinh hóa và nhóm chứng bao gồm phôi nang nở rộng không sụp khoang phôi. Kết cục đánh giá chính bao gồm tỷ lệ sống của phôi sau rã đông. Các kết quả phụ: tỷ lệ thai lâm sàng, làm tổ, đa thai và sinh hóa. Kết quả nghiên cứu: Tổng cộng có 205 bệnh nhân tham gia nghiên cứu với 96 bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu và 109 bệnh nhân trong nhóm chứng. Không có sự khác biệt về đặc điểm nền giữa hai nhóm. Tỷ lệ sống sau rã của phôi nang là 100% ở cả hai nhóm. Về kết quả lâm sàng, không có sự khác biệt thống kê giữa hai nhóm về tỷ lệ có thai lâm sàng (58,3% so với 57,8%, p > 0,05), tỷ lệ làm tổ (50,8% so với 50,0%, p > 0,05), tỷ lệ đa thai (5,2% so với 7,3%, p > 0,05) và tỷ lệ thai sinh hóa (11,5% so với 5,5%, p > 0,05). Kết luận: Kỹ thuật làm sụp khoang phôi nang nhân tạo trước khi thuỷ tinh hoá bằng phương pháp laser chưa nhận thấy sự ảnh hưởng đến tỷ lệ sống sau rã đông của phôi nang, tỷ lệ thai làm tổ, thai lâm sàng cũng như đa thai.
Khắc Tú Châu, Sĩ Phương Lê, Nguyên Cường Phạm, Văn Tân Đặng, Thị Thúy Minh Ngô
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 60-66; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.1246

Abstract:
Ung thư nguyên bào nuôi là dạng xâm lấn, ác tính nhất của nhóm bệnh lý nguyên bào nuôi, có thể gặp trong nhiều độ tuổi khác nhau, tỉ lệ tăng ở những bệnh nhân > 40 tuổi. Thường phát triển từ sự ác tính hóa của thai trứng, hiếm gặp sau thai kì bình thường, sẩy thai hay thai lạc chỗ. Vị trí thường gặp là tử cung, mặc dù hiếm nhưng có thể gặp ở buồng trứng, vòi trứng, âm đạo, cổ tử cung hay vùng chậu. Một bệnh nhân 37 tuổi, sau nạo thai trứng ác tính, xuất hiện biến chứng ung thư tế bào nuôi ở buồng tử cung có di căn ở cổ tử cung. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt tử cung toàn phần và hai phần phụ, diễn tiến hậu phẫu tốt và được điều trị bổ trợ hóa chất tiếp theo.
Quang Vũ Phạm, Danh Cường Trần, Việt Hòa Trần, Hải Long Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 19-25; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.1342

Abstract:
Mục tiêu: Mô tả, đánh giá các yếu tố liên quan tới kết quả điều trị của các thai phụ ra ối sớm ở tuổi thai 16- 34 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, theo dõi 125 thai phụ được chẩn đoán và điều trị ra ối sớm ở tuổi thai 16- 34 tuần, so sánh đánh giá các yếu tố liên quan tới kết quả thai kì của những trường hợp này. Kết quả: Nhóm thai phụ có tuổi thai 23 - 28 tuần thường gặp tình trạng ra ối sớm. Tỷ lệ giữ thai > 1 tuần là 30,4%, giữ thai tới khi đủ tháng là 3,2%. Nếu duy trì được thai kì tới 28 - 32 tuần thì nguy cơ tử vong giảm 141,66 lần so với nhóm tuổi thai từ 16- 22 tuần (OR=141,66, 95% CI : 16,029 – 1252,061). Khi chỉ số ối (AFI) của thai phụ giảm dưới 50mm thì nguy cơ phải lấy thai trong vòng 48h tăng lên 6,29 lần (OR=6.29, 95% CI: 2,41- 16,29 ) và nguy cơ tử vong sơ sinh tăng lên 4,89 lần (OR= 4,89, 95% CI: 1,69 – 14,11) so với nhóm thai phụ có chỉ số ối bình thường. Khi thai phụ có biểu hiện nhiễm trùng kèm theo ra ối sớm thì nguy cơ nhiễm khuẩn sơ sinh tăng lên 2,53 lần (OR = 2,53, 95% CI : 1,12- 5,67). Thai phụ được sử dụng corticoid đủ liều sẽ cải thiện tình trạng sơ sinh , giảm nguy cơ tử vong trẻ 12,04 lần ( OR= 12,04, 95% CI 4,93 – 29,41). Kết luận: Ra ối sớm không phụ thuộc vào tuổi mẹ, nghề nghiệp, địa dư nhưng có liên quan tới tiền sử viêm nhiễm phụ khoa. Các triệu chứng ra nước ối, màu sắc nước ối, sốt trên lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng như bạch cầu, CRP, theo dõi chỉ số ối (AFI) trên siêu âm có ý nghĩa trong việc theo dõi, điều trị và tiên lượng các biến cố thai kì.
Thị Huyền Trang Trần, Lê Thị Hà Xuyên
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 66-68; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.1316

Abstract:
Hội chứng Turner (TS: Turner Syndrome) là một trong những hội chứng phổ biến liên quan đến rối loạn nhiễm sắc thể giới tính ở nữ giới. Khoảng 95-98% bệnh nhân hội chứng Turner vô sinh do suy buồng trứng. Khả năng có thai tự nhiên ở những bệnh nhân này gần như rất hiếm. Ngoài ra, khi mang thai kể cả bằng noãn tự thân hay noãn hiến thì phụ nữ hội chứng Turner đều phải đối diện với nhiều nguy cơ trong thai kỳ, như nguy cơ sẩy thai, tiền sản giật (TSG), nguy cơ bóc tách động mạch chủ đe dọa tính mạng người mẹ và thai nhi. Báo cáo này trình bày một trường hợp bệnh nhân hội chứng Turner thể khảm mos45,X[5]/46,del(X)(q24) mang thai thành công nhờ nguồn noãn hiến tặng và sinh được một bé gái khỏe mạnh nặng 2900gr ở tuổi thai 39 tuần dưới sự phối hợp và theo dõi sát của nhiều chuyên khoa.
Bảo Trâm Nguyễn, Phạm Quế Mai Mã, Trương Thái Hà Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 9-13; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.1204

Abstract:
Xét nghiệm di truyền trước chuyển phôi hay còn gọi là xét nghiệm di truyền tiền làm tổ (Preimplantation genetic testing – PGT) giúp xác định những bất thường về mặt di truyền của phôi được tạo ra trong quá trình thụ tinh ống nghiệm. Hiện nay, đã có nhiều kỹ thuật tiên tiến được sử dụng như aCGH (Microarray-based comparative genomic hybridization), NGS (Next generation sequencing) với các ưu điểm như tăng độ phân giải để phát hiện khảm phân đoạn NST và có thể phát hiện thể khảm ở tỉ lệ thấp. Từ đó, phôi khảm được báo cáo và tần suất ghi nhận ngày càng tăng. Chuyển phôi khảm vẫn có khả năng sinh ra em bé khỏe mạnh. Tuy nhiên, phôi khảm cũng được cho là có liên quan đến thất bại làm tổ liên tiếp, sẩy thai, thai chết lưu hoặc những ca sinh sống với nhiều bất thường trong hệ gen. Cho đến hiện nay vẫn chưa có sự đồng thuận trong đánh giá, phân loại cũng như thứ tự ưu tiên chuyển phôi khảm. Trong bài tổng quan này, chúng tôi sẽ trình bày chi tiết về sự xuất hiện và phát triển của thể khảm trong phôi, kết cục thai kỳ khi chuyển phôi khảm cũng như các hướng dẫn lựa chọn và chuyển phôi khảm sau PGT.
Thị Minh Phương Vũ, Văn Tâm Vũ
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 26-29; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.1355

Abstract:
Mục tiêu: đánh giá kết quả truyền ối điều trị thiểu ối tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng từ tháng 9/2018 tới 2/2020. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả tiến cứu, theo dõi dọc. Nghiên cứu được thực hiện trên 40 thai phụ có tuổi thai từ 17 tuần tới 33 tuần, tim thai dương tính, được chẩn đoán thiểu ối (AFI < 50mm). Trong quá trình truyền ối có thể kết hợp chọc ối tìm các bất thường về di truyền. Siêu âm được thực hiện sau mỗi lần truyền ối để đánh giá kết quả. Kết quả: 19/40 bệnh nhân sinh con khỏe mạnh (47,5%), 8 ca thai lưu, 2 ca sảy thai và 11 trường hợp tử vong chu sinh. Tuổi thai trung bình tiến hành truyền ối là 24,38 ± 4,86 tuần; tuổi thai trung bình lúc sinh 30,88 ± 7,39 tuần. Nghiên cứu ghi nhận 2 trường hợp bị rỉ ối phải kết thúc thai kì ở tuần 17 và 20; 17 trường hợp BN chuyển dạ đẻ sau 34 tuần, 2 trường hợp chuyển dạ sinh non từ 28 – 34 tuần, 21 ca sinh < 28 tuần. Tuổi thai tiến hành bơm ối càng cao thì tiên lượng kết cục thai kì có xu hướng tốt hơn. Kết luận: truyền ối có thể đem lại một số lợi ích cho những bệnh nhân thiểu ối. Cần nhiều nghiên cứu với cỡ mẫu lớn
Xuân Kiên Đoàn, Thị Hằng Đoàn, Thanh Tùng Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 49-54; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.792

Abstract:
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm kiểu hình và kết quả điều trị vô sinh bằng thụ tinh trong ống nghiệm trên bệnh nhân hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu thực hiện trên 140 bệnh nhân hội chứng buồng trứng đa nang được chẩn đoán và phân loại kiểu hình theo Rotterdam. Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị vô sinh bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) theo kiểu hình. Kết quả: Kiểu hình D thường gặp nhất chiếm 44,3%, kiểu hình B ít gặp nhất chiếm 8,6%, kiểu hình C và kiểu hình A có tần suất lần lượt là 30,0% và 17,1%. Không có sự khác biệt về nồng độ AMH, LH, tỉ lệ LH/FSH giữa các nhóm kiểu hình. Không có sự khác biệt về chất lượng phôi ngày 3 giữa các nhóm kiểu hình. Tỉ lệ thai lâm sàng trung bình khi thực hiện TTTON là 44,3%, trong đó tỉ lệ có thai lâm sàng ở nhóm A là 54,2%, nhóm B là 50,0%, nhóm C và nhóm D lần lượt là 40,5%, và 41,9%. Tỉ lệ thai sinh hóa, thai lâm sàng, thai diễn tiến không có sự khác biệt giữa các nhóm kiểu hình. Kết luận: Bệnh nhân HCBTĐN có kiểu hình D gồm rối loạn phóng noãn và hình ảnh buồng trứng đa nang là thường gặp nhất, kiểu hình B gồm cường androgen và rối loạn phóng noãn ít gặp nhất. Không có sự khác biệt về chất lượng phôi ngày 3 và tỉ lệ thai sinh hóa, thai lâm sàng và thai diễn tiến giữa các nhóm kiểu hình.
Tú Như Vương, Thị Ngọc Diễm Nguyễn, Dương Toàn Phạm, Ngọc Minh Châu, Thanh Nhã Yến Hê, Thị Thanh Tuyền Triệu, Thị Ngọc Lan Vương
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 36-42; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.1272

Abstract:
Mục tiêu: Khảo sát hiệu quả và tác dụng phụ của Dienogest trên bệnh nhân lạc nội mạc tử cung có triệu chứng đau đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Mỹ Đức. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo loạt ca gồm 40 trường hợp bệnh nhân lạc nội mạc tử cung có đau vùng chậu điều trị Dienogest tại Bệnh viện Đa khoa Mỹ Đức với liều 2mg/ngày trong khoảng thời gian từ 25/10/2020 đến 30/05/2021. Mỗi bệnh nhân được đánh giá đau theo thang điểm nhìn (VAS) với các mức từ 0 đến 10 điểm và theo dõi các tác dụng phụ của thuốc tại các mốc 01 tháng, 03 tháng và 06 tháng sau điều trị. Kết quả: Cải thiện trung vị điểm số đau VAS tại các thời điểm 01, 03 và 06 tháng so với trước điều trị lần lượt là -7 (-8,7; -3; p<0,0001), -7 (-10; -5; p<0,0001) và -8 (-10; -6; p<0,0001). Các tác dụng phụ thường gặp của Dienogest bao gồm rong kinh (12,1%), mụn mặt (6,1%), bốc hỏa (3%), dấu hiệu khô âm đạo (3%). Hiệu quả giảm đau sau điều trị Dienogest có xu hướng liên quan thuận với mức độ đau trước điều trị, mặc dù chưa có ý nghĩa thống kê (p=0,06). Kết luận: Dienogest là một chọn lựa điều trị giảm đau hiệu quả và dung nạp tốt đối với những bệnh nhân lạc nội mạc tử cung (LNMTC).
Thị Lan Anh Lê, Thị Thanh Hà Trần, Minh Trác Lê, Thành Hải Nguyễn, Anh Dũng Đoàn
Tạp chí Phụ sản, Volume 20, pp 30-35; https://doi.org/10.46755/vjog.2022.1.1281

Abstract:
Mục tiêu: Mô tả thực trạng sử dụng surfactant trong điều trị hội chứng suy hô hấp (RDS) ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương; Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu bệnh án của các bệnh nhi sơ sinh có sử dụng surfactant trong khoảng thời gian từ 01/10/2019 đến hết 31/12/2019. Kết quả: 182 trẻ sơ sinh mắc RDS sử dụng 208 lượt surfactant, trong đó số lượt sử dụng beractant là nhiều nhất (45,7%). Chỉ 68,8% lượt bơm surfactant được hội chẩn trước khi dùng thuốc. Liều poractant alfa, beractant và bovactant ban đầu phù hợp khuyến cáo lần lượt chiếm 87,5%; 14,6% và 9,5%. Tỉ lệ chỉ định thời điểm dùng poractant alfa và beractant phù hợp lần lượt là 93,1% và 91,0% ở liều đầu; 86,7% và 85,7% ở liều lặp lại. Tỉ lệ chỉ định bovactant phù hợp về thời điểm còn thấp (38,1% ở liều đầu và 50% ở liều lặp lại). Kết luận: Bác sĩ sơ sinh cần phải hội chẩn đầy đủ trước khi sử dụng surfactant và sử dụng đúng các mức liều surfactant được khuyến cáo cho mỗi loại surfactant và mỗi liều surfactant theo đơn vị mg/kg cân nặng của trẻ, đồng thời chỉ định surfactant kịp thời cho trẻ sơ sinh trong trường hợp cần sử dụng thuốc nhằm tăng hiệu quả điều trị.
Khánh Dương Nguyễn, Đình Quyết Nguyễn, Thị Hải Yến Trần, Thu Hoài Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 46-51; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.4.1302

Abstract:
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ ung thư biểu mô buồng trứng (UTBMBT) theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) năm 2014, phân tích mối liên quan giữa loại mô bệnh học với độ mô học và giai đoạn bệnh UTBMBT. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện trên 95 bệnh nhân có chẩn đoán mô bệnh học (MBH) là UTBMBT sau phẫu thuật cắt buồng trứng chứa u kèm mạc nối lớn từ tháng 10/2013 đến tháng 10/2018 bằng phương pháp mô tả cắt ngang. Kết quả và kết luận: UTBM thanh dịch độ cao chiếm tỉ lệ 46,3%, UTBM chế tiết nhầy 15,8%, UTBM tuyến dạng nội mạc 14,7%, UTBM thanh dịch độ thấp 11,6%, UTBM tế bào sáng 7,4%, UTBM tuyến chế tiết nhầy - thanh dịch 4,2%. Hầu hết các trường hợp UTBM buồng trứng có độ mô học thấp (độ I và độ II) với 86,3%, độ mô học cao (độ III) với 13,7%. Hầu hết các trường hợp UTBMBT ở giai đoạn sớm (giai đoạn I) với 73,7%. Giai đoạn II chiếm 11,6%, giai đoạn III 14,7%, Giai đoạn muộn (giai đoạn II, III) gặp nhiều nhất ở típ thanh dịch độ cao. Không gặp trường hợp nào giai đoạn IV.
Thị Hương Giang Trần, Văn Tỉnh Nguyễn, Quang Tùng Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 20-24; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.4.1309

Abstract:
Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm xét nghiệm huyết học ở thai phụ có nhóm máu Rh(D) âm tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang 48.272 thai phụ đến khám và sinh con tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong thời gian từ 01/01/2018 đến 31/12/2019. Trong đó có 232 thai phụ có nhóm máu Rh(D) âm. Kết quả: Tỷ lệ thai phụ có nhóm máu Rh(D) âm là 0,48% với tuổi trung bình 27,9 ± 4,4. Thai phụ Rh(D) âm có nhóm máu O chiếm tỷ lệ nhiều nhất 43,5%. Tỷ lệ thai phụ Rh(D) âm có kháng thể kháng D là 15,5%. Nhóm thai phụ có kháng thể kháng D có tuổi trung bình (29,9 ± 4,7). Tỷ lệ thai phụ lần sinh 3 - 4 (33,3%), tỷ lệ có tiền sử thai lưu (69,4%) đều cao hơn nhóm thai phụ không có kháng thể kháng D. Nhóm có hiệu giá kháng thể ở mức lớn hơn 1:32 có tỷ lệ sinh nhiều (50%) và tỷ lệ tiền sử thai lưu (100%) cao hơn nhóm có hiệu giá kháng thể nhỏ hơn 1:32. Kết luận: Tỷ lệ thai phụ Rh(D) âm có kháng thể kháng D tương đối cao, gặp nhiều ở thai phụ tuổi cao, lần sinh nhiều và có tiền sử thai lưu (p < 0,05). Hiệu giá kháng thể ở mức lớn hơn 1:32 có liên quan đến tiền sử thai lưu và số lần có thai (p < 0,05).
Thị Hồng Thiện Đặng, Danh Cường Trần, Khánh Dương Nguyễn, Lê Minh Nguyễn, Thị Thu Trang Đoàn
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 70-73; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.4.1299

Abstract:
Giới thiệu: Breus’ Mole là một hình thái khối máu tụ lớn trong tử cung rất hiếm gặp, có thể gây ra nhiều tác động không tốt tới mẹ và thai. Ca bệnh: Một trường hợp khối máu tụ lớn trong bánh nhau gây biến chứng thiếu máu nặng cho thai phụ có thai 19 tuần. Tiền sử sản khoa nặng nề, 3 lần sảy thai lưu; mang đột biến gen gây đông máu, có bệnh nền là viêm thận có biến chứng cao huyết áp. Từ thai 5 tuần người bệnh được điều trị giữ thai bằng thuốc progesteron và lovenox tiêm hàng ngày. Khi thai 19 tuần bệnh nhân bị đau bụng dữ dội, chảy máu nặng trong tử cung, thiếu máu nặng, phải ngừng thai nghén. Kết luận: Tụ máu trong tử cung hay gặp nhất hình thái tụ máu dưới màng đệm ở rìa bánh nhau và ít gây hậu quả đến thai kỳ. Breus’ Mole là hình thái khối máu tụ lớn trong tử cung rất hiếm gặp, có thể gây hậu quả trầm trọng là mẹ bị thiếu máu nặng đến mức phải đình chỉ thai nghén.
Duy Ánh Nguyễn, Thị Linh Nguyễn, Thị Vân Khánh Nguyễn, Thúy Nga Phạm, Thị Mỹ Dung Nguyễn, Thúy Linh Đinh
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 63-69; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.4.1310

Abstract:
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả chuyển phôi sau PGT-M kết hợp PGT-A trên nhóm bệnh nhân mang bất thường di truyền đơn gen gây ra một số bệnh hiếm bao gồm: teo cơ tủy, tạo xương bất toàn, loạn dưỡng cơ Duchenne, loạn dưỡng cơ gốc chi, Hemophilia A và B. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo loạt ca được thực hiện trong thời gian từ tháng 5/2020 đến tháng 3/2021 tại khoa Hỗ trợ sinh sản và Nam học, bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Đối tượng là những cặp vợ chồng có tiền sử mang thai hoặc sinh con mắc các bệnh lý do rối loạn di truyền đơn gen, đã xác định được gen đột biến. Bệnh nhân được thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm, phân tích di truyền của phôi giai đoạn ngày 5 hoặc 6 qua 2 bước: (1) Xét nghiệm rối loạn di truyền đơn gen, (2) Xét nghiệm bất thường lệch bội (Preimplantation Genetic testing for aneuploidy -PGT-A). Phôi được lựa chọn dựa trên kết quả di truyền để chuyển vào buồng tử cung người mẹ. Kết quả: Có 21 cặp vợ chồng đủ điều kiện tham gia chương trình, tạo được 120 phôi nang. Trong 120 phôi được thực hiện xét nghiệm PGT- M có 54 phôi (45%) không mang gen bệnh hoặc ở dạng dị hợp tử không gây bệnh và tiếp tục thực hiện PGT-A, kết quả có 51,9% phôi nguyên bội, 14,8% phôi thể khảm, 33,3% phôi lệch bội. 14 bệnh nhân được tiến hành chuyển phôi, kết quả 12 bệnh nhân có thai (85,7%), hiện có 6 bệnh nhân sinh con khỏe mạnh. Kết luận: PGT-M là phương pháp hiệu quả và lựa chọn hàng đầu cho những cặp vợ chồng có mang các rối loạn di truyền đơn gen, giúp tăng cơ hội sinh con khỏe mạnh, giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Thị Ly Trần, Thị Thu Hạnh Trần,
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 35-40; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.4.1280

Abstract:
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng các bệnh nhân có kết quả tế bào âm đạo – cổ tử cung LSIL. Đối tượng và phương pháp: Tiến cứu mô tả trên 110 bệnh nhân khám sàng lọc ung thư cổ tử cung bằng tế bào âm đạo – cổ tử cung đơn thuần, có kết quả là LSIL từ 01/10/2020 đến 31/03/2021 khám tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Kết quả và kết luận: Có 43,6% bệnh nhân có ra khí hư nhiều, 15,5% ra máu bất thường và có tới 22,7% bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng. Soi cổ tử cung có 60,8% có tổn thương nghi ngờ. Khi khám lâm sàng có 12,7% trường hợp có tổn thương nghi ngờ ung thư cổ tử cung. Bệnh nhân LSIL chủ yếu có các tổn thương lành tính, CIN I, CIN II (68,9%) và có kết quả HPV âm tính hoặc dương tính 1/12 type nguy cơ cao. Bệnh nhân LSIL ≥ 40 tuổi có nguy cơ mắc CIN III hoặc ung thư biểu mô vảy cao gấp 1,22 lần so với nhóm dưới 40 tuổi với p < 0,001. Những bệnh nhân này chủ yếu nhiễm HPV typ 16 và/hoặc type 18 (p < 0,05).
Quốc Việt Trương, Danh Cường Trần, Thị Huyền Trang Nguyễn, Thị Định Trần, Thị Xuân Hảo Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 09-14; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.4.1336

Abstract:
Mục tiêu: Đánh giá thái độ xử trí thai làm tổ vết mổ cũ dựa trên hình ảnh siêu âm. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả trên 67 trường hợp bệnh nhân được chẩn đoán thai làm tổ vết mổ cũ tại Khoa Phụ Ngoại. Kết quả: Trong số 67 trường hợp thai làm tổ vết mổ cũ, số bệnh nhân đã mổ lấy thai 1 lần: 15/67 (22,4%) và ≥ 2 lần: 52/67 (77,6%). Xử trí ban đầu là: hút thai đơn thuần: 29,9%, hút thai kết hợp bóng chèn: 43,3% và 19,4% chỉ định phẫu thuật. Tỷ lệ thành công của nhóm hút đơn thuần là 100%, và của hút thai phối hợp đặt bóng chèn là 82,8%, có 5 trường hợp thất bại chuyển phẫu thuật. Tỷ lệ thành công của các trường hợp phẫu thuật đạt 100%, không có trường hợp nào phải cắt tử cung. Kết luận: Xử trí sớm các trường hợp thai ở sẹo mổ cũ lấy thai khi chẩn đoán được. Kết hợp nhiều phương pháp trong điều trị dựa vào hình ảnh siêu âm để đạt hiệu quả cao nhất. Siêu âm đường bụng nhịn tiểu là phương pháp giúp chẩn đoán thai làm tổ vết mổ cũ hiệu quả.
Thị Phương Thảo Nguyễn, Thị Hồng Thiện Đặng, Quốc Hưng Đinh, Văn Thắng Nguyễn, Thành Nam Phan, Thị Quỳnh Liên Đàm, Chi Mai Phạm, Xuân Hoài Đỗ, Trung Trưởng Trần, Quang Minh Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 41-45; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.4.1287

Abstract:
Mục tiêu: Ứng dụng mô hình IOTA ADNEX trong thăm dò chẩn đoán khối u buồng trứng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên những những trường hợp được chẩn đoán lâm sàng là u buồng trứng lành tính và ung thư buồng trứng được phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 02/2021 đến tháng 10/2021, được siêu âm sử dụng mô hình IOTA ADNEX đánh giá độ ác tính trước phẫu thuật. Kết quả mô bệnh học sau phẫu thuật u buồng trứng được xem là tiêu chuẩn vàng để đánh giá độ chính xác của mô hình IOTA ADNEX. Kết quả: Nghiên cứu có sự đồng ý tham gia của 70 người bệnh, với 79 khối u, bao gồm 26 trường hợp ung thư buồng trứng (37,2%) và 44 trường hợp có u buồng trứng lành tính (62,8%). Có 18 người bệnh có u buồng trứng 2 bên trong nghiên cứu chiếm 12,9%. Tuổi trung bình của người bệnh trong nghiên cứu là 35,6 ± 15,1. Ở ngưỡng cắt 10%, mô hình IOTA ADNEX có: độ nhạy: 83,9% (95% CI: 66,3 – 94,5%), độ đặc hiệu: 75,0% (95% CI: 60,4 – 86,4%), diện tích dưới đường cong ROC: 0,889. Kết luận: Mô hình IOTA ADNEX ở ngưỡng cắt 10% cho thấy hiệu quả tốt trong việc phân biệt khối u buồng trứng lành tính và ác tính.
Thị Thuỳ Dương Nguyễn, Danh Cường Trần, Thị Tú Anh Trần
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 52-57; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.4.1291

Abstract:
Mục tiêu: Mô tả các bất thường của thai thụ tinh trong ống nghiệm tại Trung tâm Chẩn đoán trước sinh, Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 6/2020 đến tháng 6/2021. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiến cứu trên 170 thai phụ đến khám tại Trung tâm Chẩn đoán trước sinh, Bệnh viện Phụ sản Trung ương được chẩn đoán có bất thường thai. Kết quả: Bất thường hệ tim mạch 18,8%, hệ thần kinh trung ương 14,1%; hệ cơ xương 10%; tăng khoảng sáng sau gáy 9,4%; cơ quan tiết niệu 6,5%; ống tiêu hóa 6,5%; khe hở môi, vòm hàm 6,5%; hệ hô hấp 5,9%; bất thường nhiễm sắc thể 4,1%; bất thường cơ quan sinh dục 1,2%; bất thường mắt – tai – mặt – cổ 2,4%; đa dị tật 5,9%; các bất thường khác 8,8%. Kết luận: Các bất thường thường gặp nhất của các thai sau thụ tinh ống nghiệm tại Trung tâm Chẩn đoán trước sinh, Bệnh viện Phụ sản Trung ương là bất thường hệ tim mạch, bất thường hệ thần kinh trung ương.
Trí Hiếu Phạm, Thị Thu Hương Lê, Văn Thắng Nguyễn, Thị Thùy Dung Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 74-78; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.4.1303

Abstract:
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật, điều trị hóa chất và kết cục thai kỳ của những thai phụ mắc ung thư buồng trứng (UTBT) tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương (BVPSTƯ). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả các thai phụ mới mắc UTBT nguyên phát, được phẫu thuật và hóa trị tại BVPSTƯ, từ tháng 10/2019 đến tháng 11/2021. Mô tả chùm ca bệnh hồi cứu. Kết quả nghiên cứu: Có tất cả 8 thai phụ độ tuổi trung bình 27,3 ± 6,3, phẫu thuật cắt buồng trứng hoặc phần phụ tại thời điểm từ 13 – 22 tuần. Chẩn đoán ung thư giai đoạn I theo FIGO, gồm 4 ung thư biểu mô (UTBM) và 4 u tế bào mầm. 8 thai phụ được điều trị hóa chất hầu hết gặp các biến cố nhẹ; trừ 3 thai phụ điều trị Bleomycin – Etoposid – Cisplatin (BEP) xuất hiện thai chậm phát triển trong tử cung (CPTTTC) phải mổ lấy thai (MLT) vì thai suy. 5 thai phụ còn lại đều kết thúc thai kỳ đủ tháng với cân nặng sơ sinh và Apgar tốt. Kết luận: Phẫu thuật cắt bỏ khối u và hóa trị đối với thai phụ mắc UTBT mang lại kết quả khả quan cho cả mẹ và con.
Hà Bảo Vân Nguyễn, Văn Thắng Nguyễn, Thị Thu Hương Lê, Thị Hảo Đoàn
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 29-34; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.4.1305

Abstract:
Mục tiêu: Các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng có ảnh hưởng đến kết quả điều trị của nhóm bệnh nhân u nguyên bào nuôi nguy cơ thấp kháng Methotrexate (MTX) điều trị bằng phác đồ đơn hóa trị liệu Actinomycin D (ACTD) 5 ngày. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 40 bệnh nhân u nguyên bào nuôi nguy cơ thấp kháng MTX điều trị bằng ACTD 5 ngày tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương (BVPSTW) từ tháng 01/2019 - 10/2021. Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả cắt ngang không đối chứng dựa trên hồ sơ bệnh án của Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Kết quả: Tỷ lệ thành công chung là 85%, đặc biệt với nhóm bệnh nhân có nồng độ βhCG trước khi đổi phác đồ điều trị ≤ 300IU/l thì tỷ lệ khỏi bệnh đạt tới 91,2% với p = 0,033. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với OR = 10,33 (CI 95%: 1,44 - 75,69). Điểm FIGO tại thời điểm chẩn đoán bệnh cũng góp phần tiên lượng khả năng đáp ứng điều trị. Từ 0-2 điểm, tỷ lệ kháng thuốc là 0%. Khả năng khỏi bệnh của nhóm có điểm FIGO từ 0-2 điểm lớn gấp 1,46 lần nhóm bệnh nhân từ 3 điểm trở lên. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,001. Có 4 tác dụng không mong muốn chính (ADR) là nôn, viêm miệng, hạ bạch cầu, tăng men gan tuy nhiên tỷ lệ ghi nhận các tác dụng này trên lâm sàng không đáng kể và mức độ nhẹ. Kết luận: Phác đồ Actinomycin D 5 ngày là phác đồ hiệu quả, an toàn trong điều trị nhóm bệnh nhân u nguyên bào nuôi nguy cơ thấp kháng Methotrexate có nồng độ βhCG tại thời điểm chuyển phác đồ điều trị ≤ 300 IU/l và điểm FIGO từ 0-2 điểm.
Ngọc Thùy Dương Hàn, Thị Ngọc Lan Hoàng, Thị Thu Hiền Đào, Phạm Sỹ Cường Lê, Văn Đức Phạm, Danh Cường Trần, Kim Phượng Đoàn Thị
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 25-28; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.4.1319

Abstract:
Mục tiêu: Đánh giá mối liên quan giữa các yếu tố cân nặng lúc sinh, giới tính, tuổi lấy mẫu xét nghiệm và tiền sử mẹ sử dụng thuốc chứa corticosteroids với nồng độ 17-OHP sàng lọc sơ sinh. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang xác định nồng độ 17-OHP từ mẫu máu gót chân bằng phương pháp sắc khí lỏng khối phổ liên tục (LCMS/MS) trên 2894 trẻ sơ sinh. Nhóm nguy cơ thấp và nhóm nguy cơ cao được phân loại dựa trên ngưỡng nồng độ 17-OHP lần lượt là < 30ng/ml và >= 30 ng/ml. Kết quả: Giá trị trung bình của nồng độ 17-OHP trong nghiên cứu là 7,1 ± 9,857 ng/ml. Giới tính không ảnh hưởng đáng kể đến nồng độ 17-OHP với p=0,51. Trong khi đó, nồng độ này cao hơn đáng kể ở trẻ sinh nhẹ cân, có điều trị thuốc trong và sau quá trình mang thai với p<0,01. Giữa các nhóm tuổi lấy mẫu khác nhau cũng cho kết quả khác biệt đáng kể đến nồng độ 17-OHP ở trẻ sơ sinh. Kết luận: Nồng độ 17-OHP ở mẫu giấy thấm máu gót của trẻ sơ sinh chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố như cân nặng lúc sinh, tuổi lấy mẫu xét nghiệm và tiền sử dùng thuốc chứa corticosteroids của mẹ. Nồng độ 17-OHP không bị ảnh hưởng bởi giới tính của trẻ. Nồng độ 17-OHP có xu hướng giảm khi cân nặng của trẻ sơ sinh tăng lên; tăng khi có tiền sử dùng thuốc chứa corticosteroids.
Thu Hằng Phan, Văn Thắng Nguyễn, Thị Thu Hương Lê, Thị Chi Mai Bùi
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 83-85; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.4.1301

Abstract:
Tỷ lệ khỏi bệnh của nhóm u nguyên bào nuôi nguy cơ thấp đạt khoảng gần 100%, trong khi đó tỷ lệ tử vong của nhóm u nguyên bào nuôi nguy cơ rất cao vẫn là một con số đáng kể, đặc biệt là tử vong sớm. Những bệnh nhân có điểm tiên lượng FIGO ≥ 13 điểm có tiên lượng xấu nếu được điều trị khởi đầu bằng phác đồ đa hóa chất truyền thống vẫn thường được sử dụng ở những bệnh nhân u nguyên bào nuôi nguy cơ cao. Nguyên nhân tử vong sớm là do vỡ các nhân di căn tại não, gan và phổi. Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ tháng 4/2021 đến tháng 11/2021 đã điều trị khỏi cho 5 bệnh nhân u nguyên bào nuôi nguy cơ rất cao, điểm FIGO ≥ 13 điểm. Các bệnh nhân này đã được điều trị phác đồ EP liều thấp 3 chu kỳ liên tiếp trước khi chuyển sang phác đồ EMACO. Không bệnh nhân nào gặp biến chứng vỡ nhân di căn hay nhiễm trùng hoặc thiếu máu. Nồng độ β HCG giảm sau 3 đợt EP đều đạt trên 97%. Kết luận: điều trị phác đồ EP liều thấp trước khi chuyển sang EMACO là an toàn và hiệu quả cho nhóm bệnh nhân u nguyên bào nuôi nguy cơ rất cao.
Danh Cường Trần, Thị Thuỳ Dương Nguyễn, Phương Thúy Đặng
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 15-21; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.4.1325

Abstract:
Mục tiêu: Mô tả các dấu hiệu siêu âm và kết quả chọc ối của những trường hợp thai được chẩn đoán hội chứng DiGeorge tại Trung tâm Chẩn đoán trước sinh Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 25 thai phụ đến khám tại Trung tâm Chẩn đoán trước sinh, Bệnh viện Phụ sản Trung ương được chẩn đoán thai mắc hội chứng DiGeorge. Kết quả: Bất thường trên siêu âm của hội chứng DiGeorge: các bất thường tim chiếm 72% số trường hợp, hầu hết là các bất thường nón - thân động mạch, trong đó tứ chứng Fallot chiếm tỷ lệ cao nhất. Bất thường nhiễm sắc thể: Vi mất đoạn nhánh dài nhiễm sắc thể số 22 (Microdeletion 22q11.2) chiếm 80%, vi nhân đoạn nhánh dài nhiễm sắc thể số 22 (microduplication 22q11.2) chiếm 16%, vi mất đoạn nhánh ngắn nhiễm sắc thể số 10 (microdeletion 10p14) chiếm 4%. Kết luận: Bất thường tim trong đó chủ yếu là các bất thường nón - thân động mạch chiếm đa số các bất thường hình thái trong hội chứng DiGeorge. Ngoài vi mất đoạn NST 22, vi nhân đoạn NST 22 và vi mất đoạn NST số 10 cũng được chẩn đoán hội chứng DiGeorge.
Hà Bảo Vân Nguyễn, Văn Thắng Nguyễn, Duy Duẩn Phạm
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 79-82; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.4.1288

Abstract:
U nguyên bào nuôi nguyên phát ở buồng trứng rất hiếm gặp, xuất hiện ở các bé gái và phụ nữ trẻ là chủ yếu. Chẩn đoán và điều trị bệnh còn gặp rất nhiều khó khăn do triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu và chưa có phác đồ điều trị thống nhất. Chúng tôi báo cáo 1 trường hợp bệnh nhân nữ, 22 tuổi, chưa quan hệ tình dục, đau bụng hạ vị kèm ra máu âm đạo kéo dài. Trên siêu âm thấy có khối u vùng hạ vị kèm theo xét nghiệm βhCG tăng cao, AFP bình thường. Bệnh nhân được mổ mở cắt phần phụ phải. Kết quả giải phẫu bệnh: u nguyên bào nuôi nguyên phát. Sau đó, bệnh nhân được điều trị 8 đợt hóa chất EMACO. Kết quả: Bệnh nhân ổn định ra viện. Theo dõi định kỳ tiếp 5 năm trong đó 2 năm đầu được khuyến cáo nên tránh thai. Qua bệnh nhân này chúng tôi cũng xin điểm qua ngắn gọn về y văn.
Minh Nhật Huỳnh, Chí Kông Phạm, Tín Phan, Phi Anh Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 61-64; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.3.1258

Abstract:
Giới thiệu: Khoảng 24% khối u buồng trứng được phát hiện tình cờ trong mổ lấy thai, mặc dù đã có sự phát triển của kỹ thuật siêu âm tiền sản. Tuy tỷ lệ u buồng trứng ác tính là khá thấp nhưng chúng ta cũng không nên chủ quan vì khối u có thể là dạng giáp biên hoặc ung thư. Xuất độ ung thư buồng trứng được chẩn đoán trong thai kỳ thay đổi trong khoảng 0,0179 đến 0,11/1000. Trong đó có u tế bào hạt cực kỳ hiếm gặp, chúng được chia thành 2 thể: thể người lớn và thể thiếu niên. Các hiểu biết về mối liên quan giữa u tế bào hạt và quá trình thai nghén cũng như hiếm muộn vẫn còn có sự tranh cãi giữa các nhà sản khoa và ung thư. Chúng tôi báo cáo một trường hợp u tế bào hạt buồng trứng được phát hiện tình cờ ở thai phụ 44 tuổi. Bệnh nhân được chỉ định mổ lấy thai lúc 39 tuần và phát hiện khối u. Ca lâm sàng này được giới thiệu nhằm mục tiêu bàn luận lại cách điều trị và theo dõi bệnh. Kết luận: Các lựa chọn điều trị và tổng quan về u hạt bào buồng trứng được bàn luận. Trong đó nổi bật là quá trình theo dõi đặc biệt lâu dài đối với một ung thư tái phát muộn như u tế bào hạt buồng trứng
Văn Cường Võ, Phước Hiệp Đoàn, Đức Tiến Mai
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 70-75; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.3.1265

Abstract:
Số lượng trường hợp có tinh trùng từ xuất tinh sau phẫu thuật hạ tinh hoàn ẩn ở nam giới trưởng thành không nhiều, đặc biệt ở trường hợp vô tinh với tinh hoàn ẩn một bên. Ca lâm sàng này trình bày về một trường hợp có tinh trùng từ tinh hoàn sau phẫu thuật hạ tinh hoàn với tiền sử vô tinh, đã phẫu thuật trích tinh trùng thất bại với tinh hoàn đối diện. Bệnh nhân nam, 30 tuổi, tinh hoàn ẩn bên phải, không có tiền sử phẫu thuật trước đó. Vợ bệnh nhân được đánh giá không có yếu tố vô sinh nữ kèm theo bởi bác sĩ nội tiết sinh sản. Phẫu thuật vi phẫu trích tinh trùng từ mô tinh hoàn (microdissection testicular sperm extraction – mTESE) ở tinh hoàn trái không tìm thấy tinh trùng. Bệnh nhân được phẫu thuật hạ tinh hoàn ẩn bên phải. Bảy tháng sau phẫu thuật, bệnh nhân có tinh trùng từ tinh dịch. Bé trai khỏe mạnh được chào đời từ nguồn tinh trùng trữ lạnh của bệnh nhân. Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ phân tích chi tiết những nghiên cứu trong y văn gần đây về hiệu quả phục hồi khả năng sinh tinh của việc phẫu thuật hạ tinh hoàn ẩn ở nam giới trưởng thành.
Văn Hải Trương, Thị Minh Phượng Nguyễn, Thị Minh Tâm Lưu, Thị Kim Anh Phan
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 9-13; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.3.1211

Abstract:
Hiện tượng lệch bội nhiễm sắc thể ở phôi là một trong những nguyên nhân chính gây thất bại làm tổ, sẩy thai liên tiếp, làm giảm hiệu quả điều trị thụ tinh trong ống nghiệm. Xét nghiệm di truyền phôi tiền làm tổ phát hiện phôi lệch bội (Preimplantation Genetic Testing for Aneuploidy) giúp sàng lọc, phát hiện các phôi mang bất thường về số lượng nhiễm sắc thể bằng cách thu nhận 5-10 tế bào lá nuôi phôi (Trophectoderm). Tuy nhiên, việc sinh thiết tế bào mang tính xâm lấn và yêu cầu kỹ năng thực hiện của chuyên viên phôi học để bảo đảm tiềm năng của phôi. Ngoài ra, lượng phôi bào chỉ được thu nhận từ lá nuôi phôi không đại diện cho thông tin di truyền của toàn bộ phôi. Trong những năm gần đây, một hướng tiếp cận mới là xét nghiệm di truyền phôi tiền làm tổ không xâm lấn đã được nghiên cứu mạnh mẽ nhằm thay thế, khắc phục hạn chế của phương thức truyền thống, sử dụng đối tượng nghiên cứu mới là DNA tự do. Trong quá trình nuôi cấy in-vitro, DNA tự do đã được chứng minh có nguồn gốc từ quá trình chết theo chu trình (apoptosis) hoặc sửa sai của cả lớp tế bào lá nuôi và khối tế bào bên trong (Inner Cell Mas) của phôi, được tiết vào trong dịch khoang phôi hay môi trường nuôi cấy. Các nghiên cứu ứng dụng thu nhận, khuếch đại, phân tích nhiễm sắc thể từ nguồn DNA tự do bước đầu ghi nhận kết quả khả quan, tuy nhiên vẫn cần nhiều cải thiện và phân tích đánh giá sâu trong tương lai.
Thị Quỳnh Nhi Phạm, Đức Vĩnh Lê, Văn Hiền Nguyễn, Chí Kông Phạm
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 65-69; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.3.1261

Abstract:
Hội chứng Kallmann hiếm gặp với tỷ lệ mắc khoảng 1/10.000 ở nam và 1/50.000 ở nữ. Hội chứng này đặc trưng bởi tình trạng suy sinh dục giảm gonadotropin phối hợp với giảm hoặc mất khứu giác. Trong bài viết này, chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ 19 tuổi đến khám vì vô kinh nguyên phát, khám phát hiện không phát triển các đặc điểm sinh dục thứ phát (Tanner 1) kèm theo mất khứu giác toàn bộ. Các xét nghiệm nồng độ FSH, LH và estradiol ở ngưỡng rất thấp. Không quan sát thấy rãnh khứu bên trái và hành khứu hai bên trên MRI sọ não. Các xét nghiệm về di truyền chưa ghi nhận các bất thường gen liên quan. Sau khi được chẩn đoán, bệnh nhân được điều trị ban đầu với liệu pháp nội tiết thay thế (estrogen – progesterone) với mục đích phát triển các đặc điểm sinh dục thứ phát. Về lâu dài, điều trị với gonadotropin là cần thiết để hỗ trợ khả năng sinh sản cho bệnh nhân.
, Thị Phương Dung Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 14-18; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.3.1199

Abstract:
Tinh dịch đồ là xét nghiệm đầu tay đánh giá khả năng sinh sản nam giới, nhưng xét nghiệm này không thể phản ánh chính xác những biến đổi vật chất di truyền trong nhân tinh trùng, cũng như không thể tiên lượng được kết cục điều trị trong hỗ trợ sinh sản. Tính toàn vẹn DNA tinh trùng đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của phôi cũng như là dấu hiệu sinh học đại diện cho một tinh trùng khỏe mạnh. Do đó, các kỹ thuật xét nghiệm phân mảnh DNA tinh trùng ngày càng được thực hiện phổ biến. Hiện nay, một số kỹ thuật thường được sử dụng để đánh giá phân mảnh DNA tinh trùng bao gồm TUNEL (Terminal deoxynucleotidyl transferase dUTP nick end labeling), Comet (Single cell gel electrophore sis), SCD (Sperm chromatin dispersion) và SCSA (Sperm chromatin structure assay). Cho đến nay, vẫn chưa có khuyến cáo cụ thể cho chỉ định thực hiện xét nghiệm phân mảnh DNA tinh trùng. Bài tổng quan nhằm giới thiệu về các kỹ thuật xét nghiệm phân mảnh DNA tinh trùng cũng như tổng hợp khuyến cáo cho chỉ định thực hiện xét nghiệm này.
Văn Sang Dương, Sĩ Phương Lê
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 57-60; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.3.1256

Abstract:
Thai trứng lạc chỗ hiếm khi xảy ra, do đó thường ít được nghĩ đến để cân nhắc chẩn đoán trên lâm sàng. Hình ảnh siêu âm kết hợp với giá trị hCG cao bất thường so với tuổi thai gợi ý bệnh lí thai trứng. Chẩn đoán thai trứng dựa vào tiêu chuẩn vàng mô bệnh học. Chúng tôi báo cáo một trường hợp thai trứng lạc chỗ ở đoạn kẽ tử cung. Bệnh nhân được điều trị phẫu thuật nội noi bằng kỹ thuật khâu thắt miệng túi trước khi xẻ góc tử cung và được theo dõi sau phẫu thuật.
Văn Hiếu Bùi, Thị Hoàng Trang Nguyễn, Văn Quân Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 19-25; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.3.1241

Abstract:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 92 sản phụ mang song thai tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng từ 01/01/2019 đến 31/05/2020. Trong nghiên cứu, ngưỡng cut – off của chiều dài CTC để dự báo nguy cơ sinh non < 37 tuần là 33,5mm. Nhóm chiều dài CTC < 33,5mm có nguy cơ sinh non cao hơn 4 lần so với nhóm sản phụ song thai có chiều dài CTC ≥ 33,5mm với giá trị AUC là 0,64, độ nhạy là 47,1%, độ đặc hiệu là 82,8%. Ở nhóm có tiền sử sinh non trước đó, nguy cơ sinh non trong lần mang thai này cao hơn gấp 20 lần (p < 0,05). Về kết quả dự phòng sinh non: Tuổi thai trung bình của đối tượng nghiên cứu là 35,76 ± 3,25 tuần; trong đó tỉ lệ tuổi thai ≥ 37 tuần, < 28 tuần và 34 - 37 tuần, lần lượt là 63,1%, 5,4% và 23,9%. Sử dụng các biện pháp dự phòng sinh non làm giảm nguy cơ sinh non lên đến 83,6% (p < 0,05). Không có sự khác biệt về hiệu quả dự phòng sinh non giữa các phương pháp cũng như sử dụng đơn phương pháp và đa phương pháp dự phòng sinh non.
, Văn Tuấn Nguyễn, Trần Thảo Nguyên Nguyễn, Thị Diễm Thư Nguyễn, Thị Ngọc Tỷ Nguyễn, Thị Thanh Thủy Trương
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 31-38; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.3.1268

Abstract:
Mục tiêu: Xác định giá trị của bề dày nội mạc tử cung trong tiên đoán ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ ra máu tử cung bất thường quanh và sau mãn kinh. Đối tượng và phương pháp: Phụ nữ có ra máu tử cung bất thường từ 40 tuổi trở lên được siêu âm đầu dò âm đạo và có kết quả mô bệnh học để đối chiếu. Kết quả: Bề dày nội mạc ở nhóm ác tính là 23,99 ± 10,58 mm, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm lành tính là 12,70 ± 7,53 mm với p < 0,01. Đặc biệt, ở phụ nữ ra máu sau mãn kinh, bề dày nội mạc tử cung có giá trị tốt trong tiên đoán ung thư nội mạc tử cung với AUC: 0,89, 95% CI: 0,79 – 0,99, p < 0,01. Ở phụ nữ mãn kinh dưới 5 năm chọn ngưỡng bề dày nội mạc ≥ 15,5 mm có độ nhạy, độ đặc hiệu là 100%, 95,7%. Ở phụ nữ mãn kinh trên 5 năm chọn ngưỡng bề dày nội mạc ≥ 11,7 mm có độ nhạy, độ đặc hiệu lần lượt là 90,9%, 76,9%. Kết luận: Bề dày nội mạc góp phần giúp phân biệt bệnh lý nội mạc tử cung lành tính và ác tính ở phụ nữ ra máu tử cung bất thường quanh và sau mãn kinh. Ở phụ nữ ra máu sau mãn kinh, bề dày nội mạc tử cung là một công cụ tốt giúp tiên đoán bệnh lý ung thư nội mạc tử cung.
Thị Thuận Mỹ Lê, Đắc Nguyên Nguyễn, Thị Như Quỳnh Trần, Minh Tâm Lê
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 48-56; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.3.1252

Abstract:
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mục đích khảo sát ảnh hưởng của hội chứng chuyển hóa ở nam giới của các cặp vợ chồng vô sinh lên kết quả thụ tinh nhân tạo và tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố khác với sự thành công của phương pháp. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 96 cặp vợ chồng vô sinh đã thực hiện 157 chu kỳ thụ tinh nhân tạo tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và vô sinh, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 09 năm 2021. Các trường hợp nghiên cứu sẽ được thu thập các thông tin cơ bản, khám lâm sàng, cận lâm sàng phù hợp và diễn tiến chu kỳ điều trị thụ tinh nhân tạo, theo dõi kết quả có thai lâm sàng sau điều trị. Người nam được chẩn đoán hội chứng chuyển hóa (HCCH) theo AHA/NHLBI năm 2005. So sánh các yếu tố thuộc tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH và các yếu tố khác ở người chồng và người vợ với kết quả thụ tinh nhân tạo, từ đó phân tích tìm mối liên quan và bàn luận. Kết quả: Tỷ lệ mắc HCCH ở đối tượng nam giới các cặp vợ chồng vô sinh theo AHA/NHLBI năm 2005 là 22,9%(22/96). Có sự khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ thành công sau thụ tinh nhân tạo ở nhóm không mắc HCCH (16,0%) và nhóm mắc của đối tượng nam giới vô sinh (2,6%) với p=0,047. Nghiên cứu ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ Glucose máu đói ở người chồng với tỷ lệ mang thai lâm sàng sau điều trị (p=0,019), liên quan nghịch giữa tăng Glucose máu đói ở người chồng với mật độ tinh trùng (giá trị là: rh0= -0,360, p= 0,019). Tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa giữa độ dày nội mạc tử cung người vợ với tỷ lệ thành công sau điều trị (p= 0,025). Tuy nhiên, không ghi nhận liên quan của các yếu tố khác như độ tuổi, BMI của cặp vợ chồng với sự thành công của phương pháp (p>0,05). Kết luận: Tỷ lệ thành công của phương pháp thụ tinh nhân tạo ở nhóm không mắc HCCH cao hơn có ý nghĩa so với nhóm mắc HCCH. Rối loạn tăng Glucose máu đói ở người chồng giảm tỷ lệ thành công sau điều trị thụ tinh nhân tạo. Niêm mạc tử cung người vợ liên quan có ý nghĩa đến sự thành công của phương pháp.
Thị Ngọc Bích Trần, Ngọc Thành Cao
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 26-30; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.3.1253

Abstract:
Mục tiêu: Khảo sát giá trị CA-125, β-hCG và progesterone huyết thanh trong các trường hợp thai lạc chỗ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu bệnh chứng trên 42 trường hợp thai lạc và 42 trường hợp thai trong tử cung được quản lý tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ 05/2019 đến 05/2020. Chẩn đoán xác định thai lạc chỗ dựa vào kết quả phẫu thuật và giải phẫu bệnh. Nhóm chứng là các trường hợp đơn thai phát triển bình thường trong tử cung, tương đồng tuổi thai. Nồng độ CA-125 và β-hCG, progesterone huyết thanh khảo sát theo các nhóm tuổi thai, < 6 tuần, 6 - 7 tuần, và ≥ 8 tuần. Kết quả: Nồng độ CA-125 ở nhóm thai lạc chổ là 23,8 U/ml (11,6 - 59,4), thấp hơn nhóm thai trong tử cung 70,1 U/ml (35,0 - 146,0), p < 0,001. Nồng độ β-hCG và progesterone ở nhóm thai lạc chỗ thứ tự là 2570,0 mUI/ml (42,8 - 94579,0) và 9,1 ng/ml (0,7 - 29,8), các giá trị này đều thấp hơn so với nhóm thai trong tử cung, tương ứng là 18357,5 mIU/ml (4622,0 - 157985,0) và 26,7 ng/ml (20,4 - 37,1), p < 0,001. Ở nhóm thai lạc chổ, nồng độ CA-125 không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo tuổi thai, ở nhóm < 6 tuần, 6 - 7 tuần và nhóm ≥ 8 tuần tương ứng là 23,2 U/ml (11,6 - 59,4), 23,6 U/ml (15,9 - 48,9) và 23,3 U/ml (20,5 - 32,8), p = 0,08. Trong khi đó, ở nhóm thai phát triển trong tử cung, nồng độ CA-125 tăng dần theo tuổi thai, nhóm < 6 tuần, 6 - 7 tuần và nhóm ≥ 8 tuần tương ứng 59,1 U/ml (35,0 - 83,3), 81,4 U/ml (75,7 - 90,1) và 101,1 U/ml (91,4 - 146,0), p = 0,02. Kết luận: Nồng độ CA-125 và β-hCG, progesterone thấp hơn trong thai lạc chỗ so với thai trong tử cung. Giá trị CA-125 thay đổi không đáng kể theo tuổi thai trong nhóm thai lạc chỗ.
Thị Như Quỳnh Trần, Minh Tâm Lê, Thị Thuận Mỹ Lê, Ngọc Thành Cao
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 39-47; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.3.1251

Abstract:
Mục tiêu: Tìm hiểu đặc điểm và các yếu tố liên quan đến tình trạng nội mạc tử cung trong chu kỳ thụ tinh nhân tạo, đồng thời khảo sát ảnh hưởng của độ dày nội mạc tử cung đến sự thành công của phương pháp. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang các cặp vợ chồng vô sinh được điều trị bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo bơm tinh trùng vào buồng tử cung, tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và Vô sinh - Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế trong thời gian từ tháng 08 năm 2018 đến tháng 04 năm 2021. Sau khi thu thập thông tin hành chính, thăm khám lâm sàng và cận lâm sàng cho cặp vợ chồng hiếm muộn thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ, theo dõi nang noãn và thực hiện kỹ thuật bơm tinh trùng vào buồng tử cung, xét nghiệm beta-hCG máu sau bơm 2 tuần và siêu âm thai 2 tuần sau khi thử thai dương tính. Kết quả: Phác đồ kích thích buồng trứng và việc bổ sung estrogen trong các chu kỳ theo dõi nang noãn tác động có ý nghĩa lên độ dày nội mạc. Độ dày nội mạc có mối liên quan đáng kể đến sự thành công của kỹ thuật bơm tinh trùng vào buồng tử cung. Ngưỡng độ dày nội mạc tử cung 8,65mm có thể tiên lượng kết quả có thai với độ nhạy là 61,5% và độ đặc hiệu là 63,5%, AUC = 61,6%, p < 0,05. Bên cạnh đó, một số yếu tố người vợ, độ tuổi của người chồng có ảnh hưởng bất lợi đến kết quả có thai. Kết luận: Kích thích buồng trứng trong chu kỳ thụ tinh nhân tạo có liên quan đến độ dày của nội mạc. Đặc điểm độ dày nội mạc tử cung là một yếu tố có khả năng tiên lượng kết quả có thai sau thụ tinh nhân tạo.
Đình Triệu Vỹ Ngô, Mạnh Linh Trần
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 15-21; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.2.1217

Abstract:
Cổ tử cung không thuận lợi là một thách thức trong khởi phát chuyển dạ với mục tiêu sinh đường âm đạo. Trong đó, Prostaglandin, đặc biệt là Prostaglandin E2, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân giải, phá vỡ cấu trúc collagen dẫn đến chín muồi cổ tử cung. Các phương pháp cơ học làm chín muồi cổ tử cung bằng cơ chế tăng áp lực trực tiếp lên cấu trúc cổ tử cung và màng ối. Qua đó giải phóng các Prostaglandin từ màng rụng và cổ tử cung. Phương pháp cơ học phổ biến hiện nay là đặt bóng, thường sử dụng đặt sonde Foley qua kênh cổ tử cung vào khoảng giữa màng ối và lỗ trong cổ tử cung. Đặt bóng có hiệu quả làm chín muồi cổ tử cung cao, giúp cải thiện chỉ số Bishop và giảm tỷ lệ các tác dụng phụ như cơn gò tử cung cường tính hoặc nhịp tim thai bất thường so với các phương pháp hoá học. Đồng thời, đặt bóng có thể kết hợp sử dụng oxytocin để tăng hiệu quả và tăng khả năng khởi phát chuyển dạ. Bài tổng quan mô tả phương pháp và hiệu quả của phương pháp đặt bóng làm chín muồi cổ tử cung, qua đó đánh giá đầy đủ về khả năng áp dụng hiện nay.
Ngọc Hân Phùng, Minh Tâm Lê, Quang Vinh Trương
Tạp chí Phụ sản, Volume 15, pp 41-46; https://doi.org/10.46755/vjog.2017.1.309

Abstract:
Mục tiêu: Khảo sát các chỉ định mổ lấy thai (MLT) ở sản phụ mang thai con so tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến các nguyên nhân mổ lấy thai ở những sản phụ mang thai con so. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 451 sản phụ mang thai con so đủ tháng nhập viện tại khoa Phụ Sản, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế từ tháng 7/2016 đến tháng 1/2017. Kết quả: Tỉ lệ mổ lấy thai con so là 58,8%. Nguyên nhân MLT hay gặp nhất là suy thai (chiếm 38,1%). Chỉ định MLT thường do kết hợp nhiều nguyên nhân (72,5% có từ 2 chỉ định). Sự kết hợp nhiều nhất ở nhóm nguyên nhân do thai và nguyên nhân mẹ- thai. Có mối liên quan giữa con so lớn tuổi, địa chỉ nông thôn, chiều cao mẹ < 145cm và chỉ định MLT. Chiều cao trung bình của nhóm sản phụ MLT thấp hơn nhóm sản phụ sinh thường có ý nghĩa thống kê (p 0,05). Cân nặng trẻ sơ sinh tính chung là 3144,6± 379,3 g, nhóm MLT lớn hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Apgar 1 phút và 5 phút của 2 sơ sinh 2 nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Kết luận: Tỷ lệ mổ lấy thai con so hiện nay là khá cao, chủ yếu do nguyên nhân thai. Cần theo dõi chuyển dạ chặt chẽ và chỉ định hợp lý để kiểm soát tốt tỷ lệ mổ lấy thai đồng thời đảm bảo cuộc đẻ an toàn.
Thị Như Quỳnh Bùi, Văn Đức Võ, Minh Tâm Lê
Tạp chí Phụ sản, Volume 15, pp 51-56; https://doi.org/10.46755/vjog.2017.1.311

Abstract:
Mục tiêu: So sánh hiệu quả của hai phác đồ trong tống thai nội khoa dùng cho thai ngừng tiến triển nhỏ hon 12 tuần: 1- phác đồ Misoprostol đặt âm đạo với phác đồ 2- Misoprostol ngậm dưới lưỡi. Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang Phương pháp: Trong thời gian từ tháng 12/2015 đến 12/2016, chúng tôi tiến hành nghiên cứu 188 trường hợp thai ngừng tiến triển ≤ 12 tuần tại Khoa Sản Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Bệnh nhân chia ngẫu nhiên làm 2 nhóm: (1) tống thai bằng Misoprostol đường đặt âm đạo, (2) tống thai bằng Misoprostol ngậm dưới lưỡi. Kết quả: Tỷ lệ thành công chung là 97,9%. Không có sự khác biệt giữa hai nhóm Misoprostol đặt âm đạo và Misoprostol ngậm dưới lưỡi (p > 0,05). Thời gian xuất hiện triệu chứng khi ngậm Misoprostol dưới lưỡi (2,8 ± 1,3 giờ) nhanh hơn khi đặt âm đạo (3,3 ± 1,4) và thời gian tống thai trung bình ở nhóm Misoprostol ngậm dưới lưỡi (9,2 ± 3,8giờ) cũng nhanh hơn so với nhóm Misoprostol đặt âm đạo (11,3 ± 4,1giờ) và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Sự khác biệt không có ý nghĩa về tỷ lệ sẩy thai hoàn toàn và không hoàn toàn. Tác dụng phụ hay gặp khi đặt âm đạo là tiêu chảy (12,8%). Trong khi đó ở nhóm Misoprostol đường ngậm dưới lưỡi, tê niêm mạc dưới lưỡi và buồn nôn, nôn là tác dụng phụ bị than phiền nhiều nhất. Kết luận: Cả Misoprostol đường ngậm dưới lưỡi và đặt âm đạo đều hiệu quả trong tống thai ngừng tiến triển ≤ 12 tuần. Tuy nhiên Misoprostol ngậm dưới lưỡi dường như tống thai nhanh hơn và là đường dùng có tỷ lệ hài lòng cao hơn.
Đại Lương Lý, Thị Ngọc Mai Trần, Vũ Lan Hương Trần, Thái Hữu Lộc Trần, Mỹ Anh Tô, Ngọc Anh Vũ Hồ, Thành Nam Nguyễn, Thị Thu Vân Trần
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 48-53; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.2.1205

Abstract:
Mục tiêu: Khảo sát lối sống của các thai phụ bao gồm chế độ ăn uống và hoạt động thể chất trước thời điểm chẩn đoán ĐTĐTK. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đây là một nghiên cứu báo cáo loạt ca khảo sát lối sống của 558 thai phụ được chẩn đoán Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) bằng nghiệm pháp dung nạp 75 gram glucose – 2 giờ tại thời điểm thai 24 – 28 tuần được quản lý thai kỳ tại bệnh viện Mỹ Đức trong thời gian từ 01/2021 đến 07/2021. Kết quả: Nghiên cứu ghi nhận thai phụ có thói quen ăn nhiều chất bột đường, trái cây ngọt và ít rau củ, đặc biệt thiếu chất xơ trầm trọng vào bữa điểm tâm. Hơn một nửa thai phụ có thói quen thường xuyên dùng các thức uống có đường. 83% thai phụ không vận động hoặc chỉ vận động < 15 phút/ngày, do lo ngại nguy cơ sẩy thai hoặc sanh non. Số lần tập thể dục trung bình trong một tuần 2,09 lần, quá ít so với khuyến cáo. Kết luận: Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin cho công tác tư vấn dinh dưỡng, thay đổi lối sống cho các thai phụ Việt Nam để phòng ngừa ĐTĐTK.
Thị Lý Phùng, Thu Hoài Nguyễn, Thị Hương Linh Nguyễn, Thị Tân Sinh Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 54-60; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.2.1192

Abstract:
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và liên quan đến nguy cơ mang liên cầu khuẩn nhóm B tại thời điểm 35 - 37 tuần. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ, tiến cứu trên 1.574 sản phụ quản lý thai kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City từ 01/2019 - 01/2020. Sàng lọc và chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ bằng nghiệm pháp dung nạp 75 gram glucose - 2 giờ tại thời điểm 24 - 28 tuần, liên cầu khuẩn nhóm B được xét nghiệm bằng mẫu dịch âm đạo khi thai 35 - 37 tuần. Tất cả thai phụ được quản lý đến kết thúc thai kỳ. Kết quả: Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ là 6,2% (98/1.574), nhóm đái tháo đường thai kỳ có tỷ lệ mang liên cầu khuẩn nhóm B tại thời điểm 35 - 37 tuần cao hơn nhóm không bị đái tháo đường, 34,7% so với 16,3%, p < 0,0001. Sản phụ bị đái tháo đường thai kỳ kèm mang liên cầu khuẩn nhóm B tăng nguy cơ sinh non (OR 4,9; 95%CI: 1,8 - 13,3), mổ lấy thai (OR 4,1; 95%CI: 1,7 - 9,9), tăng nguy cơ trẻ sơ sinh cần nhập Đơn vị chăm sóc tích cực (OR 2,9; 95%CI: 1,0 - 8,6) và nguy cơ hạ đường huyết sơ sinh (OR 3,2; 95%CI: 1,1 - 9,3). Tuy nhiên, chưa phát hiện liên quan đến tỷ lệ nhiễm trùng sơ sinh sớm, tỷ lệ trẻ sơ sinh ngạt. Kết luận: Đái tháo đường thai kỳ tăng tỷ lệ mang liên cầu khuẩn nhóm B tại thời điểm 35 - 37 tuần thai kỳ.
Đức Tiến Mai, Minh Nhật Nguyễn, Thị Phương Loan Bùi, Cao Cường Hồ, Quang Vinh Đặng
Tạp chí Phụ sản, Volume 15, pp 47-50; https://doi.org/10.46755/vjog.2017.1.310

Abstract:
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả dự phòng sinh non của khâu vòng cổ tử cung (CTC) trong các thai kỳ song thai có CTC ngắn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu hồi cứu, báo cáo hàng loạt ca. Dân số chọn mẫu: thai kì song thai được chẩn đoán cổ tử cung ngắn < 25 mm tuổi thai từ 16 đến 24 tuần được khâu CTC tại bệnh viện Mỹ Đức từ tháng 01/2014 – tháng 7/2016. Kết quả: Tỉ lệ sinh non trước 34 tuần của song thai có kênh cổ tử cung ngắn khâu vòng cổ tử cung là 30,6% (22 sản phụ). Tỉ lệ tử vong chu sinh được ghi nhận là 11,8%. Không trường hợp nào biến chứng nặng sau thủ thuật được ghi nhận. Kết luận: Khâu vòng CTC có thể được xem xét áp dụng trong dự phòng sinh non ở các thai phụ song thai có cổ tử cung ngắn.
Ngọc Anh Vũ Hồ, Thị Ngọc Lan Vương
Tạp chí Phụ sản, Volume 15, pp 30-35; https://doi.org/10.46755/vjog.2017.1.307

Abstract:
Trữ phôi toàn bộ - chuyển phôi trữ đang được thực hiện ngày càng nhiều ở các trung tâm thụ tinh ống nghiệm trên thế giới. Tuy nhiên, thời điểm tối ứu để chuyển phôi trữ sau trữ phôi toàn bộ chưa được nghiên cứu nhiều. Gần đây, Tạp chí Sinh sản người (Human Reproduction) đã đăng tải một loạt các nghiên cứu về vấn đề này. Đây là những bằng chứng y học ban đầu, cung cấp cho các nhà lâm sàng cơ sở để xác định thời điểm tối ưu để chuyển phôi trữ sau trữ phôi toàn bộ nhằm tăng hiệu quả điều trị và sự hài lòng của bệnh nhân.
Hoàng Long Nguyễn, Tố Nguyên Hà, Văn Đức Võ
Tạp chí Phụ sản, Volume 15, pp 172-177; https://doi.org/10.46755/vjog.2017.3.435

Abstract:
Đặt vấn đề: Loạn sản trung mô bánh nhau là một bất thường mạch máu hiếm gặp, đặc trưng bởi sự quá sản các thân nhung mao ở màng đệm. Cần phải chẩn đoán phân biệt một cách chính xác loạn sản trung mô bánh nhau với các bệnh lý như chửa trứng bán phần, song thai có một thai bình thường và một thai trứng toàn phần hay nhau thể khảm vì tiên lượng và điều trị hoàn toàn khác nhau. Việc theo dõi và tiên lượng loạn sản trung mô bánh nhau rất quan trọng vì tình trạng này liên quan đến một số kết cục thai kỳ không tốt trên sản phụ lẫn thai nhi. Báo cáo trường hợp lâm sàng: 02 trường hợp loạn sản trung mô bánh nhau được chẩn đoán và theo dõi ngoại trú tại khoa Phụ Sản, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế trong suốt thai kỳ. Mô bệnh học và hình ảnh đại thể bánh nhau sau sinh cho thấy phù hợp với chẩn đoán loạn sản trung mô bánh nhau với các đặc điểm siêu âm tiền sản, kết quả tương tự với các nghiên cứu đã được công bố trên thế giới. Kết quả thai kỳ không có các biến chứng trên thai phụ, tuy nhiên 1 trong 2 trường hợp có nghi ngờ tình trạng chậm tăng trưởng trong tử cung. Kết luận: Cần thiết phải khảo sát hình thái học thai nhi kỹ có hướng chẩn đoán. Nên chọc ối để loại trừ hoàn toàn thai trứng bán phần. Loạn sản trung mô bánh nhau có liên quan đến một số biến chứng trong thai kỳ, tuy nhiên đây là bệnh lý lành tính vì vậy cần theo dõi sát sự phát triển của thai và sự xuất hiện các biến chứng nếu có.
Thị Thanh Tâm Hồ, Minh Tâm Lê, Đình Dương Lê, Quang Vinh Trương, Ngọc Thành Cao
Tạp chí Phụ sản, Volume 15, pp 162-167; https://doi.org/10.46755/vjog.2017.3.433

Abstract:
Mục tiêu: Đánh giá mối liên quan giữa rối loạn tình dục nam và nữ ở cặp vợ chồng vô sinh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, sử dụng các bộ câu hỏi Chỉ số quốc tế về chức năng cương dương (IIEF) cho chồng và Chỉ số chức năng tình dục nữ (FSFI) cho vợ trong mẫu 150 cặp vợ chồng vô sinh đến khám tại trung tâm Nội tiết sinh sản và Vô sinh, Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế. Kết quả: Nghiên cứu đã tìm thấy một mối tương quan thuận giữa chức năng tình dục nam và nữ, mức độ tương quan nhẹ (r = 0,26). Ngoài ra còn tìm thấy tổng điểm IIEF có tương quan nhẹ với điểm số các hình thái phấn khích, đạt khoái cảm và thỏa mãn trong chức năng tình dục nữ (với hệ số tương quan r lần lượt là 0,176; 0,223 và 0,271). Đồng thời, tổng điểm FSFI cũng có tương quan nhẹ với các hình thái thỏa mãn giao hợp và thỏa mãn toàn diện trong chức năng tình dục nam (với r lần lượt là 0,178 và 0,222). Kết luận: Đã tìm thấy một mối tương quan về chức năng tình dục giữa vợ và chồng của các cặp vô sinh, rối loạn tình dục ở người này có thể là sự phản ánh rối loạn ở người kia
Tuấn Đạt Đỗ, Mạnh Trí Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 72-75; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.2.1189

Abstract:
Sẹo mổ cũ kèm theo rau tiền đạo là một trong những yếu tố nguy cơ cao nhất cho bệnh lý rau cài răng lược, đặc biệt những trường hợp rau cài răng lược tại sẹo mổ cũ có nguy cơ vỡ tử cung cao hơn so với trường hợp có sẹo mổ cũ đơn thuần. Chúng tôi báo cáo hai trường hợp vỡ tử cung tự phát tại sẹo mổ cũ trên nền rau cài răng lược gặp tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội ở quý hai của thai kỳ. Ghi nhận lúc vào viện đều có biểu hiện sớm của sốc giảm tuần hoàn do chảy máu trong ổ bụng và cả hai đều được phẫu thuật cấp cứu nhằm mục tiêu đảm bảo tính mạng của mẹ, trong đó một trường hợp phải cắt tử cung và một trường hợp bảo tồn tử cung. Quá trình hậu sản của cả hai trường hợp đều ổn định.
Văn Thắng Nguyễn, Bá Quyết Vũ, Thái Giang Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 15, pp 84-88; https://doi.org/10.46755/vjog.2017.1.317

Abstract:
U nguyên bào nuôi - một bệnh lý nguyên bào nuôi ác tính được điều trị chủ yếu bằng hóa chất và phẫu thuật là bệnh có tỷ lệ điều trị khỏi tới gần 99%. Mục tiêu: phân tích các yếu tố nguy cơ của nhóm bệnh nhân điều trị thất bại nhằm tìm ra nguyên nhân của sự thất bại. Đối tượng: tất cả 5 bệnh nhân điều trị U nguyên bào nuôi thất bại ở Bệnh viện Phụ sản Trung Ương năm 2016. Phương pháp: mô tả hồi cứu. Kết quả: tỷ lệ điều trị U nguyên bào nuôi thất bại là 2%. 100% bệnh nhân thất bại này thuộc nhóm nguy cơ cao, 2 bệnh nhân bỏ điều trị và theo dõi sau điều trị nhiều tháng. Tiền sử thai nghén: 1 trường hợp sau đẻ đủ tháng, 4 trường hợp sau chửa trứng. Vị trí di căn nhiều nhất là phổi rồi đến âm đạo, thận và gan. Tại thời điểm ngừng điều trị, có 2 trường hợp kháng tất cả phác đồ hóa chất, 3 trường hợp xuất hiện dấu hiệu tác dụng phụ của hóa chất nên không thể tiếp tục dùng hóa chất. Kết luận: các trường hợp thất bại điều trị đều thuộc nhóm nguy cơ rất cao theo phân loại của WHO, liên quan tới không tuân thủ liệu trình điều trị, không theo dõi đúng sau điều trị.
Thị Thu Hà Nguyễn, Đức Hinh Nguyễn, Duy Ánh Nguyễn
Tạp chí Phụ sản, Volume 15, pp 63-68; https://doi.org/10.46755/vjog.2017.1.313

Abstract:
Mục tiêu: Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi AMH sau mổ nội soi bóc nang lạc nội mạc tử cung tại buồng trứng. Đối tượng: 100 bệnh nhân được mổ nội soi bóc nang LNMTC tại buồng trứng. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu theo dõi dọc. Kết quả: nồng độ AMH trung bình giảm 47,94% sau mổ, sự thay đổi này không phụ thuộc vào các yếu tố: số lần có thai, số con, tình trạng vô sinh hay nồng độ CA125, các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi AMH sau mổ là vị trí nang ở một bên hay hai bên buồng trứng, kích thước nang lạc nội mạc tử cung, điểm rASRM, giai đoạn LNMTC, nồng độ AMH trước mổ và tuổi. Kết luận: Nồng độ AMH giảm có ý nghĩa thống kê sau mổ nội soi bóc nang LNMTC tại buồng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố trước và trong mổ.
Vương Thị Ngọc Lan, Ngọc Anh Vũ Hồ, Thiện Trung Lý, Thị Ngọc Lan Vương
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 27-33; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.2.1225

Abstract:
Giới thiệu: Hiệp hội Siêu âm sản phụ khoa quốc tế đã đưa ra đồng thuận trong chẩn đoán và mô tả cụ thể các đặc điểm hình thái của khuyết sẹo mổ lấy thai vào năm 2019. Khuyết sẹo mổ lấy thai cũng được ghi nhận là một nguyên nhân của hiếm muộn thứ phát. Chưa có nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ và đặc điểm thái của khuyết sẹo mổ lấy thai ở phụ nữ hiếm muộn có tiền căn mổ lấy thai với tiêu chuẩn chẩn đoán rõ ràng. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ, đặc điểm hình thái của khuyết sẹo mổ lấy thai và các yếu tố liên quan đến khuyết sẹo mổ lấy thai ở phụ nữ hiếm muộn có tiền căn mổ lấy thai. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang toàn bộ những phụ nữ có tiền căn mổ lấy thai đến khám hiếm muộn tại Đơn vị Hỗ trợ sinh sản – Bệnh viện Mỹ Đức, thành phố Hồ Chí Minh từ 10/2020 đến 03/2021. Phỏng vấn đối tượng tham gia nghiên cứu bằng bảng câu hỏi. Siêu âm đầu dò âm đạo đánh giá khuyết sẹo mổ lấy thai được thực hiện thường qui theo Hướng dẫn của Hiệp hội Siêu âm sản phụ khoa quốc tế. Hồi qui logistic được sử dụng để đánh giá các yếu tố liên quan đến khuyết sẹo mổ lấy thai. Kết quả: Có 340 phụ nữ được nhận vào nghiên cứu. 125 phụ nữ có khuyết sẹo (36,8%). Khuyết đơn giản chiếm 89,6%, khuyết đơn giản với 1 nhánh phụ là 8,8%, và khuyết phức tạp là 1,6%. Chiều sâu, độ dày cơ tử cung còn lại, và độ dày cơ tử cung cạnh sẹo lần lượt là 4,5 [3,0 – 6,1] mm, 4,0 [3,0 – 5,2] mm và 9,1 [8,0 – 11,2] mm. Yếu tố liên quan đến khuyết sẹo: tử cung ngã sau (PR* = 2,44; KTC 95% = 1,51 – 3,96; p* < 0,001) và thời gian từ lúc mổ lấy thai đến khi khám hiếm muộn ≥120 tháng (PR* = 3,20, KTC 95% = 1,16 – 8,83; p* = 0,025). Kết luận: Khuyết sẹo mổ lấy thai khá phổ biến ở phụ nữ hiếm muộn có tiền căn mổ lấy thai. Khuyết sẹo hầu hết thuộc loại đơn giản. Tử cung ngã sau và thời gian từ lúc mổ lấy thai đến khi khám hiếm muộn dài có liên quan đến khả năng cao phát hiện khuyết sẹo mổ lấy thai.
Thị Kim Liên Nguyễn, Quang Tâm Nguyễn, , Văn Minh Đoàn
Tạp chí Phụ sản, Volume 19, pp 34-40; https://doi.org/10.46755/vjog.2021.2.1222

Abstract:
Mục tiêu: Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng theo y học cổ truyền (YHCT) và tìm hiểu sự khác nhau của một số yếu tố giữa các thể lâm sàng ở bệnh nhân vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 102 bệnh nhân nữ vô sinh có HCBTĐN tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và Vô sinh – Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Kết quả: Lưỡi to bệu/có dấu răng 60,8%, rêu trắng 94,1%, mạch trầm 92,2%, mạch sác 27,5%, mạch tế 55,9%, mệt mỏi hoặc hay quên 86,3%, kinh nguyệt không đều 71,6%, kinh nguyệt sau kì 53,9%. Thể thận hư can uất 42,2%, đàm ứ tương kết 26,5%, thận hư huyết ứ 17,6%, tỳ hư đàm thấp 13,7%. Có sự khác biệt về chỉ số khối cơ thể (BMI) và chu vi vòng bụng giữa các thể lâm sàng, p<0,05. Kết luận: Các triệu chứng lâm sàng theo YHCT ở bệnh nhân vô sinh có HCBTĐN xuất hiện khá phổ biến. Thể tỳ hư đàm thấp và thể đàm ứ tương kết có BMI và chu vi vòng bụng cao hơn thể thận hư huyết ứ và thận hư can uất.
Page of 6
Articles per Page
by
Show export options
  Select all
Back to Top Top